CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Lý thuyết Xã hội hóa Xã hội hóa (Socialization) là quá trình cá thể gia nhập và hòa nhập xã hội nói chung và vào những nhóm xã hội cụ thể, đồng thời ở phía ngược lại, xã hội cũng tiếp nhận cá nhân đó như một thành viên của mình. Theo lý thuyết này, quá trình xã hội hóa một cá nhân có thời gian từ khi một đứa trẻ chào đời cho đến khi già và từ bỏ cõi đời này. Quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân khác nhau nhưng cũng có những nguyên tắc chung nhất định.
Một nguyên tắc đáng quan tâm của lý thuyết Xã hội hóa khi áp dụng đề tài này là, nếu như cá nhân bị đứt đoạn xã hội hóa thì phải “tái xã hội hóa” hay “tái hòa nhập” mới có thể được cộng đồng thừa nhận và nhờ đó cá nhân mới có thể dễ dàng hòa nhập vào cộng đồng mình đã từng sống và tiếp tục sống. Tuy nhiên, ở đây xảy ra trường hợp là nếu mà thời gian đứt đoạn xã hội hóa quá lâu thì sẽ có hai tình huống đặt ra. Thứ nhất, nếu môi trường xã hội hóa trước đó anh ta đã sống và sau khi quay trở lại không khác nhau về chất thì việc tái hòa nhập không mấy khó khăn. Thứ hai, nếu môi trường xã hội hóa trước và sau đó hoàn toàn khác biệt nhau về chất thì việc tái hòa nhập là hết sức khó khăn và không thiếu những trường hợp thất bại, bởi vì anh ta không thích ứng nổi và xã hội cũng “dị ứng” với anh ta.
Việc làm là một yếu tố quan trọng cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng, khả năng kiếm việc làm và khả năng tái hòa nhập cộng đồng của người sau cai phụ thuộc vào chính bản thân người sau cai và cả cái nhìn của xã hội. Lý thuyết gán nhãn Lý thuyết gán nhãn (labeling theory) là một lý thuyết xã hội học nghiên cứu hành vi ứng xử của con người theo phương pháp phân tích tương tác biểu tượng, qua đó khẳng định hành vi tuân thủ hay lệch lạc của một người là do kết quả của quá trình 10 người khác xác định hay gán nhãn hiệu. Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành vi lệch lạc, cùng một số hành vi nhưng có thể có nhiều định nghĩa khác nhau trong những tình huống khác nhau. Trong số các nhà xã hội học đã đưa ra lý thuyết gán nhãn, chúng tôi chọn nội dung của nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ: Howard Becker (1928).
Ông cho rằng, sự lệch lạc chỉ có thể định nghĩa như: “hành vi con người được gọi như thế”. Vì sự lệch lạc có tính tương đối và phụ thuộc vào tình huống tương tác xã hội cụ thể. Ông tập trung vào phân tích cơ chế và nguyên nhân dẫn đến một hành vi nào đó được xác định là lệch lạc hay phạm tội trong khi những hành vi tương tự lại không. Lý thuyết của Becker nhấn mạnh đến sự phản ứng của người khác cũng như những hệ quả của phản ứng đó là tạo ra sự lệch lạc.
Khi một người bị gán nhãn hiệu là lệch lạc, người đó sẽ trở nên bị tách rời khỏi xã hội, tìm đến với những người cùng cảnh ngộ và đến mức độ nào đó, sẽ phản ứng đúng với những gì mà xã hội gán cho. Khi áp dụng lý thuyết này vào vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu. Chúng tôi muốn xem xét quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người sau cai có bị xã hội “gán nhãn” hay không? Nếu có thì sự gán nhãn đó tác động đến vấn đề việc làm của họ như thế nào? Đề tài này sẽ là một thực nghiệm kiểm chứng cho lý thuyết gán nhãn. Lý thuyết chức năng Lý thuyết chức năng coi xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều cấu trúc, nhiều bộ phận, mỗi một bộ phận như thế tồn tại và thực hiện những chức năng nào đó.
Một bộ phận giữ một vai trò bình thường nào đó và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêu cầu và thỏa mãn những nhu cầu bình thường nào đó của xã hội. Nhà xã hội học người Mỹ Robert Merton, người đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này, theo ông, trong xã hội tồn tại một số chức năng lớn: - Chức năng công khai: là những chức năng công khai và được thừa nhận - Chức năng tiềm ẩn: là những chức năng không có mục đích và không được ghi nhận Trong xã hội thực tại, vấn đề việc làm luôn luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với cá nhân hay nhóm xã hội. Tùy theo từng hoàn cảnh, mối quan hệ và trình độ, 11 khả năng của từng người mà có nhiều việc làm với thu nhập và tính chất công việc khác nhau. Đối với người sau cai nghiện đã tái hòa nhập cộng đồng thì việc làm càng trở nên quan trọng, chúng đóng những chức năng lớn: - Chức năng công khai: + Việc làm tạo thu nhập nuôi sống bản thân + Việc làm còn cải tạo cuộc sống của người sau cai - Chức năng tiềm ẩn: + Giúp họ tránh xa được con đường cũ, ngăn ngừa khả năng tái nghiện + Việc làm tạo cơ sở cho sự thay đổi của nhận thức xã hội đối với người sau cai nghiện Qua sự phát triển các chức năng đó, ta thấy được tâm quan trọng, vai trò của vấn đề việc làm, qua đó, càng nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy, đào tạo nghề cho những học viên sau cai mà cụ thể ở đây là quá trình đào tạo nghề ở TTCB Đức Hạnh.
Lý thuyết hành động xã hội Lý thuyết hành động xã hội được nhà xã hội học người Đức Max Weber khởi xướng vào đầu thế kỷ XX. Ông cho rằng, hành động của con người luôn mang ý nghĩa chủ quan và khi hành động bao giờ cũng theo một quyết định nội tại. Một thực tế có thể nhận thấy được là hành động xã hội của con người diễn ra theo những quy tắc nhất định và trong những hình thái nhất định. Những quy tắc và hình thái này có một sự bất biến tương đối.Weber, có bốn kiểu hành động xã hội: hành động hợp lý về mục đích, hành động hợp lý về giá trị, hành động theo cảm xúc và hành động truyền thống.
Để áp dụng cho đề tài này, nhóm sử dụng hành động hợp lý về mục đích và hành động hợp lý về giá trị để nghiên cứu áp dụng. - Hành động hợp lý về mục đích (còn gọi là hành động duy lý - công cụ): là loại hành động mà khi thực hiện người ta sẽ hướng tới mục đích nào đó và cần phải quyết định xem sử dụng phương thức nào để đạt mục đích đó. Người sau cai nghiện đã tái hòa nhập cộng đồng cần có việc làm để ổn định cuộc sống và tránh tái nghiện. Nhưng để có việc làm thì có thể có nhiều cách, cá nhân đó có thể nhờ mối quan hệ để xin 12 việc, có thể nhờ bạn bè, người quen, hay các trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm để tìm việc.
Công việc làm có thể có các tính chất khác nhau như ổn định hay không ổn định, thu nhập cao hay thấp, các yếu tố sức khỏe, bệnh nghề nghiệp có thể ảnh hưởng… đều phụ thuộc vào quá trình người ta sử dụng “công cụ” gì để xin việc làm. - Hành động hợp lý về giá trị là loại hành động mà khi tiến hành họ sẽ suy nghĩ là hành động theo những thang bậc giá trị nào hay là hành động như thế có đem lại cho một giá trị nào hay góp phần củng cố, làm giàu cho một giá trị nào đó hay không. Hành động hợp lý về giá trị thường chịu ảnh hưởng của các chuẩn mực văn hóa, tôn giáo. Sau quá trình cai nghiện và chữa bệnh ở Trung tâm khi tái hòa nhập cộng đồng, người ta lại phải lo kiếm việc làm để ổn định cuộc sống.
Vào lúc này, người ta lại phải hành động kiếm việc làm và làm ăn ra sao để duy trì hạnh phúc gia đình. Chúng tôi muốn sử dụng lý thuyết này để lý giải cho những hành động kiếm việc làm của bản thân người sau cai. Một số khái niệm 1. Việc làm: Có nhiều định nghĩa khác nhau theo những chuyên ngành xã hội khác nhau.
Trong khuôn khổ những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, có một định nghĩa khái niệm mà chúng tôi thấy phù hợp nhất đó là: “Việc làm là bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội mang lại thu nhập cho người lao động và không bị pháp luật cấm” (Từ điển chuyên ngành xã hội học - NXB Lao động) Tức là những công việc của con người bất kể giới tính, trình độ học vấn, đặc điểm cá nhân, chỉ cần có sức lao động và có khả năng lao động có thể làm bất cứ nghề gì, việc gì mang lại thu nhập mà không bị phấp luật cấm thì coi là việc làm. Đặc biệt là trong khi thực hiện đề tài này, khi tiếp cận đời sống và việc làm của người hồi gia thì vấn đề định nghĩa “việc làm” còn có thể định nghĩa phong phú hơn. Một người hồi gia sau một thời gian ở tại trường, trại cai nghiện và muốn đi kiếm việc làm. Nếu kiếm được việc làm thì rất tốt, nhưng nếu không kiếm được việc làm tại các công ty thì buộc cá nhân đó phải làm nhiều việc để kiếm sống trước, kể cả đó là phụ giúp 13 người thân trong gia đình để sống.
Trong trường hợp đó, vẫn có thể coi đó là một công việc hiện tại của cá nhân đó. Người có việc làm: “Là người làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội” (Tổ chức lao động quốc tế - ILO) 3. Thất nghiệp: “Là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc ở mức tiền công đang thịnh hành” Ở đây cần phân biệt “người thất nghiệp” và “người không có việc làm”. Theo ILO, “người thất nghiệp” là người có nghề, tức đã từng học nghề, học ngành nào đó và đã được cấp bằng hay chứng chỉ, nhưng đang trong tình trạng không làm việc mà mình được học.
Còn “người không có việc làm” là người không có bằng cấp chứng chỉ ngành nghề nào mà lại đang trong tình trạng không việc làm. “Là tình trạng lệ thuộc về mặt tinh thần hoặc thể chất hoặc cả hai vào một (hoặc nhiều) chất có khả năng gây nghiện.