Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI “Thái Nguyên xanh mát nương chè Chè xanh xứ Thái đậm đà ngát hương. Bà con một nắng, hai sương Nụ cười chíu nắng bên nương dưới đồi”. [9] Thái Nguyên xanh mát nương chè, phảng phất gió heo may, với sông Cầu thoáng màu xanh trung du, với sắc hoa rừng nhè nhẹ ngát hương, với Thủ đô Gió ngàn nặng ân tình, An toàn Chiến khu xưa. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng văn hóa Việt Bắc, phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội.
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là 1.444 người; trong đó, đông nhất là dân tộc Kinh có 786.903 người, chiếm 75,5%; dân tộc Tày có 106.238 người, chiếm 10,7%; dân tộc Nùng có 54.628 người, chiếm 5,1%; dân tộc Sán Dìu có 37.365 người, chiếm 2,4%; dân tộc Sán Chay có 29.229 người, chiếm 2,79%, dân tộc Dao có 21.818, chiếm 2,1%; dân tộc Mông có 4.831 người, chiếm và các dân tộc thiểu số khác chiếm khoảng 1,8%. Và đến với Thái Nguyên là đến với một nền văn hoá dân gian khá độc đáo, mang đậm dấu ấn miền núi. Sự tiếp xúc giữa văn hoá Sán Dìu với văn hoá dân gian của dân tộc Cao Lan, H’mông, Dao, Nùng, Tày,… trong vùng không thể không ảnh hưởng lẫn nhau ở chừng mực nào đó trong nghệ thuật và trong sinh hoạt. Nhưng tâm lý, thị hiếu thẩm mĩ và điều kiện sinh sống không bao giờ đồng nhất giữa các dân tộc.
Cho nên văn hoá nghệ thuật của bất cứ cộng đồng nào cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vẫn mang những nét dáng tinh tuý riêng, thể hiện thành bản sắc dân tộc. Văn hoá của dân tộc Sán Dìu cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên 1. Vài nét về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam 1.
Dân số của người Sán Dìu Theo thống kê trên toàn quốc, người Sán Dìu có số dân theo các năm như sau: Năm 1989 có 94. Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam đến ngày 01/04/2009, người Sán Dìu có số dân 146.821 người, cư trú 56/63 tỉnh, thành phố của cả nước, dân số đứng thứ 17/54 dân tộc của Việt Nam. Phân bố dân cư của người Sán Dìu không đồng đều còn chênh lệch ở mức cao giữa nông thôn (90,86%) và thành thị (9,14%). Địa bàn cư trú của người dân tộc Sán Dìu chủ yếu ở trung du và miền núi phía Bắc (85.011 người) và đồng bằng sông Hồng (57.
Các tỉnh có dân số từ 1000 người trở lên như Thái Nguyên; Vĩnh Phúc; Bắc Giang; Tuyên Quang; Quảng Ninh; Hải Dương. Ở các tỉnh phía Nam người Sán Dìu tập trung đông ở vùng Tây Nguyên (1.757 người) và Đông Nam Bộ (1.968 người), các tỉnh có dân số từ 100 người trở lên như: Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắc Lắc, Gia Lai, Bà Rịa Vũng Tàu, Kon Tum. Tên gọi tộc người Dân tộc Sán Dìu tên tự nhận San Déo Nhín, theo âm Hán Việt có thể hình dung: San = Sơn; Déo = Dao; Nhín = Nhân. San Déo Nhín tức là Sơn Dao Nhân.
Đồng bào cũng có những tên gọi tương tự như: San Déo Láo, cách gọi này được người Sán Dìu sử dụng trong cộng đồng. Ngoài tên tự nhận, dân tộc Sán Dìu còn có các tên gọi khác do những dân tộc cận cư gọi, chủ yếu dựa vào đặc điểm khác nhau (mang tính địa phương) như: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Dựa vào trang phục truyền thống gọi là Mán Váy Xẻ, Mán Quần Cộc để phân biệt với Mán Quần Chẹt, Mán Quần Trắng – một tên gọi khác của nhóm Dao Quần Trắng và nhóm Dao Quần Chẹt. [62] Dựa vào đặc điểm nhà ở, người Sán Dìu có tên là Trại, Trại Đất. Nhà của người Sán Dìu tường được trình bằng đất hay bưng ván.
Từ đó, để phân biệt với Trại Cao là tên gọi chỉ những người dân tộc Cao Lan sống trong các ngôi nhà sàn bằng gỗ. Dựa vào sự kết hợp giữa nhà ở với đặc điểm canh tác gọi là Trại Ruộng, tức người Sán Dìu ở nhà đất, làm ruộng. Dựa vào nhà ở và trang phục truyền thống gọi là Trại Cộc, tức người Sán Dìu mặc quần cộc và ở nhà đất tường trình. Các tên gọi dân tộc Sán Dìu thuộc các nhóm địa phương như Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang.
không phải tên gọi thống nhất của dân tộc Sán Dìu. Mục đích các tên gọi này để phân biệt với các dân tộc cận cư như: Sán Chay, Dao, Tày. Những năm 50 của thế kỷ XX, bản danh mục tương đối đầy đủ và khá chi tiết về thành phần các dân tộc Việt Nam mới được công bố trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam của tác giả Lã Văn Lô và cộng sự đã thống nhất tên gọi Sán Dìu dưới góc độ chuyên môn để phân định các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tổng cục thống kê Trung ương chính thức khẳng định tên Sán Dìu trong các văn bản Nhà nước là tên gọi chính thống của dân tộc này.
Sơ lược về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên 1. Nguồn gốc lịch sử Về nguồn gốc tộc người Sán Dìu, từ trước tới nay vẫn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bởi lẽ, chúng ta chưa tìm ra cứ liệu khoa học chính xác nào bàn về vấn đề này mà chỉ dựa trên những ghi chép chưa thật chi tiết của các sử gia hay lời kể của những vị cao niên am tường về văn hóa dân tộc Sán Dìu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Nhà nghiên cứu Ma Khánh Bằng khẳng định“tất cả các nhóm Dao ở nước ta đều là Man hay Mán.
Như vậy, có thể nghĩ rằng Man = Dao, và Sơn Man tức là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu” [2, tr. Những lí giải trên của ông, vô hình chung đã đồng nhất các dân tộc vào làm một. Bởi lẽ, không phải dân tộc nào là Man hay Mán cũng là Dao, trong chế độ phong kiến không riêng gì người Dao được gọi là Man, mà nhiều dân tộc khác cũng gọi như vậy, cụ thể như người Hmông, Pàthẻn, Cao Lan… Các sử gia phong kiến đã gộp nhiều tộc người vào làm một và chỉ dựa vào đặc trưng văn hóa như ăn, ở, mặc… mà chưa đi sâu tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng, tri thức bản địa, tổ chức cộng đồng, văn học dân gian…những thành tố quan trọng tạo nên bản sắc riêng của các tộc người, nên khó có thể hiểu rõ về những “giống người” trên thuộc về dân tộc nào. Các triều đại phong kiến đều gọi các dân tộc thiểu số là Man hay Mán, trong từ “Man di”.
Cũng trong cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam, có viết: “Quần Cộc từ Quảng Đông di cư sang đất nước ta mới được độ ba bốn trăm năm nay, còn có tên là Sơn Dao,”.9] Căn cứ vào tên tự nhận của đồng bào Sán Dìu, khi di cư vào Việt Nam do loạn lạc, người Sán Dìu chạy lên các vùng đồi núi thấp, bán sơn địa sinh sống. Những ngày đầu tiên trên đất nước Việt Nam, người Sán Dìu sống du canh du cư, họ dựng những túp lều hay những nhà trại. Do vậy, từ “San Léo – Sán Lều” dùng chỉ những người làm ăn sinh sống và ở những lều trại trong rừng, đọc chệch là San Déo – người Sán Dìu. Theo tác giả Ma Khánh Bằng thì “Tên Sán Dìu từ Sơn Dao, thì người Sán Dìu vốn có nguồn gốc từ người Dao.
Từ đó ta có thể suy ra rằng: từ rất xa xưa, khối Dao bị bọn phong kiến phương Bắc thống trị đã “bóp vụn” thành nhiều nhóm nhỏ, khiến cho mỗi nhóm phiêu bạt một nơi. Người Sán Dìu là một trong những nhóm đó, nhưng đã sống lâu ngày bên cạnh người Hán nên dần dần mất tiếng mẹ đẻ, tiếp thu một thổ ngữ ở Quảng Đông…”.9] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Tuy chưa xác định rõ nguồn gốc tộc người Sán Dìu nhưng tộc người này vẫn ý thức mình là một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, có ngôn ngữ riêng… với tên tự gọi là San Déo Nhín. Người Sán Dìu di cư vào Việt Nam đã vượt qua dãy Hoàng Trúc Cao Sơn (Voóng Mố Lẻng) từ xã Quảng Sơn huyện Hải Hà tới xã Quảng Lâm huyện Đầm Hà, tiếp tục tiến sâu vào nước ta. Họ đi qua Tiên Yên rồi tỏa đi các nơi sinh cơ và lập nghiệp ở nhiều địa phương khác nhau.
Tuy nhiên, địa bàn cư trú của người Sán Dìu chủ yếu từ tả ngạn sông Hồng đến các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Họ có mặt ở các vùng đồi núi thấp, các triền núi, chân đồi thậm chí cả vùng biển đảo như: huyện Vân Đồn, huyện Đầm Hà, huyện Tiên Yên… Một nhóm rẽ sang thị xã Chí Linh (Hải Dương), nhánh chính theo dãy núi Yên Tử tiến vào các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc. Theo gia phả của gia đình ông Lê Hữu Nhất, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, tổ tiên họ xa kia có nguồn gốc tại thôn Phong Lưu, xã Bách La, huyện Phương Thành, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Vào đời Càn Long, Nhà Thanh, tổ tiên họ di cư sang Việt Nam, đến nay đã 13 đời (trên dưới 300 năm).
Quảng Ninh là điểm định cư đầu tiên của họ tại Việt Nam. Sau đó, họ di cư tới Thanh Trà, Phú Lương, Thái Nguyên. Đến đời cụ Lê Hữu Nhất, lại chuyển đến Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Dân số và địa bàn cư trú Hiện nay, Thái Nguyên là tỉnh có đông người Sán Dìu nhất ở nước ta (29,59%).365 người (3,57%), họ đứng ở vị trí thứ 4 trong các dân tộc của tỉnh và có mặt ở tất cả các huyện, thị xã thành phố của Thái Nguyên.
Người Sán Dìu phân bố chủ yếu ở vùng bán sơn địa, đông nhất là huyện Đồng Hỷ (40,8%), tiếp đến là thị xã Phổ Yên (21,8%), huyện Phú Lương (12,2%), thành phố Thái Nguyên (9,2%) và ít nhất là huyện Định Hoá (0,09%).