CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trong những năm qua cũng đã nhận được sự quan tâm lớn ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu tổng kết các quan niệm về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, hệ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, một số công trình đề xuất bảng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh Việt Nam.
Công trình tiêu biểu gần đây phải kể đến là: “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của Trần Ngọc Thêm (2017), hay “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế: Góp thêm một vài ý kiến nhỏ” của Lương Đình Hải (2015). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, rất nhiều tác giả Việt Nam đã trăn trở về vấn đề định hướng giáo dục của con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng. Phạm Minh Hạc (2015) có công trình “Định hướng giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập”, Phạm Hồng Tung (2010) có ấn phẩm “Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”,.Các đề tài trên đã bàn về việc xây dựng nguyên tắc cho cách tiếp cận đối với chủ đề về văn hóa và góp phần nhận diện xu hướng biến đổi giá trị con người Việt Nam nói chung và thanh niên nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Khi luận bàn về GTVH Ngô Đức Thịnh (2019) cho rằng: “GTVH là do xã hội sáng tạo ra trong thời đại lịch sử, nhưng một khi hệ GTVH đã hình thành thì nó có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong xã hội ấy”.
Còn khi luận bàn về GTVH TT, các nhà nghiên cứu có những phát 10 biểu 12 khác nhau. Theo Phan Huy Lê (1994), TT là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác [23]. Theo Trần Văn Giàu (1987) GT TT hay GTVH TT là “những nguyên lí đạo đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử dựa vào để phân biệt phải trái, nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó” [15]. Xét từ góc độ thời đại, Ngô Đức Thịnh (2010) cho rằng, văn hoá TT hay GT văn hoá TT được hiểu như là văn hoá và GT gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, GT văn hoá thời đại công nghiệp hoá.
Tác giả Trần Văn Giàu (1980), "Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam", NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Tác giả đã nêu lên những ảnh hưởng của lịch sử đối với sự phát triển về giá trị tinh thần truyền thống cách mạng của dân tộc như: tinh thần yêu nước, đoàn kết, sáng tạo,… trong cuộc sống. Theo tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh và Trần Văn Ba (2014), đã tổng hợp bản sắc văn hóa dân tộc Tày, Nùng gồm các bộ phận chính như sau: - Văn hóa ngôn ngữ - Văn hóa trang phục - Văn hóa tinh thần (Phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội) - Văn hóa ở (lối cư trú, nhà ở, tổ chức cộng đồng) - Văn hóa ẩm thực Những nghiên cứu kể trên đã góp phần giúp hình dung được một cách rõ ràng và khá đầy đủ về văn hoá và bản sắc văn hoá các dân tộc. Văn hoá các dân tộc thiểu số có những đặc trưng, bản sắc rất riêng, cần được bảo tồn, gìn giữ và phát triển trong xã hội, ngay từ việc giáo dục cho các thế hệ học sinh, đặc biệt là học sinh ở các trường PTDTBT. Những nghiên cứu quản lý giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh THCS tại các trường phổ thông dân tộc bán trú.
Những vấn đề dạy học nghiên cứu về dạy học, các công trình trong nước cũng đã chạm đến những vấn đề về văn hóa, đa văn hóa, giáo dục bản sắc văn hóa, 11 dạy học với những điểm nhìn khá phong phú. Nguyễn Thế Kiệt (2014), nghiên cứu “Giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh với việc hình thành và phát triển nhân cách HS Việt Nam hiện nay” của Bùi Thanh Thủy (2015). Nghiên cứu “Quản lý giáo dục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trước thách thức của toàn cầu hóa” của Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002). Vấn đề văn hóa các dân tộc thiểu số cũng đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, ví dụ tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn “Văn hóa dân tộc Tày”.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra: Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, dân tộc Mông ở Yên Bái là một trong những dân tộc còn bảo lưu được nhiều sắc thái văn hóa độc đáo. Những giá trị văn hóa ấy luôn được các thế hệ người Mông nơi đây tự hào, gìn giữ, phát huy và bảo tồn cùng với tình yêu quê hương, xứ sở. Với khoảng trên 110.000 nhân khẩu, dân tộc Mông ở Yên Bái đứng thứ tư về số dân trong tỉnh gồm 4 nhóm chính là Mông Hoa (Mông Lềnh), Mông Đen (Mông Đu), Mông Trắng (Mông Đơ) và Mông Si (Mông Đỏ). Trong đó, người Mông Hoa và Mông Si chiếm đa số, họ sống trên các triền núi cao, tập trung tại các huyện vùng cao Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn.
Nghiên cứu về “Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam” của các tác giả Nguyễn Chí Huyên, Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo (2000) các tác giả đã đưa ra truyền thống lâu đời của dân tộc vùng biên giới phía Bắc Việt Nam. Các tác giả cho rằng vào dịp Tết hay trong các lễ cưới truyền thống, người Mông đều hát dân ca và múa khèn. Nhiều làn điệu dân ca hát ru, hát đối, hát đố, hát giải, dân vũ. phản ánh cuộc sống lao động, chinh phục tự nhiên và mong ước mơ về cuộc sống hạnh phúc, no đủ.
Hoàng Ngọc La (Chủ biên), (2002), đã đưa ra đặc sắc của văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc là loại hát kể chuyện lịch sử dân tộc gọi là hát “Thản chù;” hát “Gầu phềnh” - trai gái hát trong khi chơi Pa Pao, hát qua sợi chỉ nối với hai ống nứa bịt da ếch cho riêng hai người. Nhóm tác giả Hà Thị Thu Thủy, Dương Quỳnh Phương, Vũ Như Vân (2012) đã đưa ra văn hóa dân tộc của dân tộc Dao, Tày, Nùng gắn với lịch sử, địa ly, sinh thái nhân văn miền núi phía Bắc. 12 Tác giả Nguyễn Lộc (2010) trong nghiên cứu “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc” đã khảo sát thực trạng văn hóa, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc trong giai đoạn hiện nay. Từ đó có những đánh giá về thực trạng giáo dục, bảo tồn phát triển văn hóa một số dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc.
Phạm Lệ Thanh (2014) trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên” đã nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú; đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên. Tác giả Nguyễn Hoài Nam trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở các trường Trung học sơ sở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở các trường Trung học sơ sở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu quả Quản lý hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh ở các trường Trung học sơ sở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về nhận thức, về đổi mới tổ chức, thực hiện và kiểm tra đánh giá. Các công trình này đã phác họa một bức tranh chân thực, khái quát về nguồn gốc lịch sử tộc người, quá trình hình thành tộc người, nhóm ngôn ngữ, đặc điểm kinh tế - văn hóa.
Đó là những tài liệu tham khảo quý để chúng tôi có thể tham khảo, vận dụng vào đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh trung học cơ sở theo hướng huy động cộng đồng tại các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết về GD bản sắc văn hóa DTTS cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú, vì vậy đề tài này vẫn đảm bảo được tính mới trong việc ứng dụng quản lý giáo dục văn hoá vào một địa bàn cụ thể, với đối tượng học sinh rất đặc thù. Các khái niệm về vấn đề nghiên cứu 13 1. Giáo dục Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành phương pháp nhận thức, hành động cùng những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với yêu cầu và chuẩn mực xã hội.