phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 5 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về sinh kế và giảm nghèo của du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số Chƣơng 2: Tổng quan tài liệu và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3. Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Bình luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị chính sách 6 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SINH KẾ VÀ GIẢM NGHÈO CỦA DU LỊCH ĐỐI VỚI HỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Một số vấn đề lý luận về sinh kế dựa vào du lịch 1.1 Khung lý thuyết sinh kế bền vững 1.1 Khái niệm về sinh kế Khái niệm sinh kế là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con ngƣời có thể đƣợc kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để đạt đƣợc các mục tiêu và ƣớc nguyện của họ (Adger, 1999). Department for International Development (DFID, 2000) cho rằng sinh kế khả năng bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hoặc có thể đƣợc sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ trong cuộc sống.
Theo DFID (2001) thì sinh kế gồm ba thành phần quan trọng là nguồn lực sinh kế, chiến lƣợc sinh kế và kết quả sinh kế. Ellis (2000) cũng cho rằng sinh kế bao gồm các nguồn lực/ nguồn vốn (tự nhiên, vật chất, con ngƣời, tài chính và xã hội), các hoạt động và cơ hội tiếp cận các nguồn lực đó thông qua các yếu tố trung gian nhƣ chính sách, thể chế và quan hệ xã hội, mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi hộ gia đình. Chambers & Conway (1992) chỉ ra rằng sinh kế là bao gồm những khả năng (capacity), nguồn lực và các nguồn dự trữ, nguồn tài nguyên, quyền đƣợc bảo vệ và tiếp cận, và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống của hộ gia đình. Theo Bùi Dũng Toái (2004) cho rằng sinh kế là một tập hợp của các nguồn vốn và khả năng của con ngƣời kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn có thể đạt đến những mục tiêu đa dạng hơn.
Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn đƣợc gọi là sinh kế sinh nhai của hộ gia đình, cộng đồng đó. Khái niệm sinh kế bền vững Chambers & Conway (1992) cho rằng “một sinh kế đƣợc cho là bền vững khi mà sinh kế đó đối phó và phục hồi từ những căng thẳng và các cú sốc, duy trì hoặc tăng cƣờng khả năng các tài sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các hế hệ tiếp theo, đem lại phúc lợi cho cấp địa phƣơng và cộng đồng trong ngắn hạn và dài hạn”. Koos Neefjes (2000) cho rằng “Một sinh kế bền vững là sinh kế cá nhân hoặc hộ gia đình họ có thể đƣơng đầu và phục hồi trƣớc căng thẳng và biến động, mà họ 7 có thể tồn tại đƣợc hoặc nang cao thêm khả năng và của cải của mình và cả trong tƣơng lai mà không làm tổn hại đến các vốn môi trƣờng”. Carney (2002) khẳng định: “Sinh kế trở nên bền vững khi nó ứng phó đƣợc các tác động ngắn hạn và thích nghi đƣợc với các ảnh hƣởng dài hạn hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cƣờng khả năng về vốn hiện tại và tƣơng lai, mà nó không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, nguồn sinh kế.
Trong đó, các tác động ngắn hạn là quá trình xảy ra nhanh có thể là do các yếu tố tự nhiên (bão, lũ lụt, sâu bệnh, ong thần, nắng gắt, nóng, hoặc xã hội (dịch bệnh, biến động giá cả, tai nạn) tác động ảnh hƣởng bất ngờ đến sinh kế bền vững. Những tác động dài hạn của sinh kế thƣờng xảy ra rất chậm do các yếu tố tự nhiên nhƣ: biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ chậm… hoặc xã hội tạo nên nhƣ khủng hoảng về kinh tế và những tác động của nó… những tác động dài hạn thƣờng ảnh hƣởng trực tiếp và lâu dài đến sinh kế bền vững của con ngƣời trong quá trình tồn tại và phát triển. Hanstad và cộng sự (2004) cho rằng “Sinh kế bền vững là một sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị các tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và tƣơng lai nhƣng không làm ảnh hƣởng đến các vốn tự nhiên”.3 Các yếu tố cấu thành của khung sinh kế bền vững Theo Department for International Development - DFID (2000), tài sản sinh kế bao gồm các vốn tự nhiên (N), vật chất (P), xã hội (S), con ngƣời (H) và tài chính (F). DFID (2000) chỉ ra rằng vốn sinh kế đƣợc chia làm 5 loại sau: vốn con ngƣời, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên.
Đặt trong quan điểm tiếp cận sinh kế du lịch thì Onur (2018) và Scoones (2009) đã đƣa cách tiếp cận với 5 vốn cơ bản, gồm: con ngƣời, xã hội, tài chính, tự nhiên và thể chế, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực thể chế. Vốn con ngƣời Vốn con ngƣời trong số những thứ khác bao gồm sức khỏe, giáo dục, kỹ năng và cơ hội việc làm. Việc tiếp cận với sức khỏe tốt, giáo dục và tiền lƣơng là cần thiết để tận dụng bốn điều còn lại tài sản và những thứ không thể thiếu đối với sinh kế bền vững (DFID, 2000). Vốn xã hội Vốn xã hội đƣợc phát triển thông qua các mạng lƣới xã hội, trong đó nảy sinh sự cộng tác và các mối quan hệ đáng tin cậy.
Điều này có tác động trực tiếp đến các tài sản khác. Chẳng hạn, vốn tài chính có thể đƣợc hƣởng lợi từ các mối quan hệ 8 kinh tế đáng tin cậy (DFID, 2000). Là các tiềm lực xã hội nhƣ các nhóm tổ chức đoàn thể, quy tắc xã hội và cơ hội tham gia, nguồn thông tin hỗ trợ, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin. Vốn tự nhiên Đất đai, mặt nƣớc, rừng, đa dạng sinh học và động vật hoang dã là một phần của vốn tự nhiên, chẳng hạn nhƣ hàng hóa công vô hình, bao gồm nƣớc và không khí mà hộ gia đình dựa vào để thực hiện các mục đích sinh kế (DFID, 2000).
Vốn tài chính Là các nguồn vốn khác nhau mà con ngƣời sử dụng để đạt các mục tiêu sinh kế, đó là các khoản tiền mặt và các khoản tƣơng đƣơng tiền. Vốn tài chính bao gồm: nguồn tiết kiệm, thu nhập, tiền gửi, vật nuôi, hàng hóa dự trữ, khoản hỗ trợ, trợ cấp, lƣơng hƣu, các khoản tiền vay, tín dụng và các khoản nợ (DFID, 2000). Vốn tài chính cũng đƣợc hiểu là tiền mặt, tín dụng, các khoản nợ, tiết kiệm và các tài sản kinh tế khác rất cần thiết cho việc theo đuổi bất kỳ chiến lƣợc sinh kế (Goldman, 2000). Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi, có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công các loại vốn khác (Carney, 1998).
Vốn thể chế Thể chế, chính sách và pháp luật đóng vai quan trọng trong việc thực hiện thành công các chiến lƣợc sinh kế. Sự ảnh hƣởng này trò có thể hạn chế hoặc tăng cƣờng thúc đẩy cho việc thực hiện mục tiêu sinh kế của cá nhân, hộ gia đình hoặc cộng đồng. Chiến lƣợc sinh kế Bao gồm sự kết hợp của các hoạt động đƣợc lựa chọn để đạt đƣợc mục tiêu sinh kế của họ, chiến lƣợc sinh kế gồm nhóm dựa trên tài nguyên, nhóm không dựa trên tài nguyên, nhóm di dân (DFID, 2001). Theo Scoones (2009), chiến lƣợc sinh kế là việc xác định mục tiêu, phƣơng hƣớng, cách thức kiếm sống và các giải pháp mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống nhằm mục đích tạo thu nhập.
Việc lựa chọn chiến lƣợc sinh kế có thể tạo ra nguồn thu nhập từ một hay nhiều hoạt động sản xuất khác nhau. Theo Carney (2002), chiến lƣợc sinh kế là một tập hợp các hoạt động và phƣơng pháp thực hiện các hoạt động đó, nhằm đạt mục tiêu sinh kế. Để có đƣợc các chiến lƣợc sinh kế, việc phân tích đánh giá mức độ sở hữu của đối tƣợng đối với các vốn sinh kế. Kết quả sinh kế Là những thành tựu hoặc đầu ra của các chiến lƣợc sinh kế nhƣ thu nhập nhiều hơn, tăng phúc lợi, giảm thiểu tổn thƣơng, cải thiện an ninh lƣơng thực và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững hơn (DFID, 2000).
Scoones (2009) cũng cho rằng kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình đạt đƣợc khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau theo các hoạt động sinh kế cụ thể. Việc lựa chọn vốn sinh kế và sử dụng chiến lƣợc sinh kế sẽ quyết định đến kết quả sinh kế.2 Sinh kế dựa vào du lịch của hộ dân tộc thiểu số 1.1 Khái niệm sinh kế dựa vào du lịch Theo Fujun (2009) “Sinh kế dựa vào du lịch bao gồm tài sản sinh kế cốt lõi (vốn tự nhiên, con người, tài chính, xã hội và thể chế), các hoạt động liên quan đến du lịch, và cách tiếp cận các hoạt động này để cung cấp phương tiện sinh sống”. Sinh kế du lịch bền vững là sinh kế gắn liền với bối cảnh du lịch trong đó nó có thể đối phó với tính dễ bị tổn thƣơng và đạt đƣợc kết quả sinh kế bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trƣờng cũng nhƣ thể chế mà không làm suy yếu sinh kế của ngƣời khác (Fujun, 2009). Tao & Wall (2009) cho rằng “Du lịch nhƣ một chiến lƣợc đa dạng hóa sinh kế mang nhiều lợi ích giúp cho các hộ có thể tích lũy nhằm để tiêu dùng và đầu tƣ, phân tán sự rủi ro, phản ứng thích ứng với khả năng dài hạn giảm quyền lợi thu nhập do có những thay đổi nghiêm trọng về kinh tế hoặc môi trƣờng nằm ngoài tầm kiểm soát của địa phƣơng, cũng nhƣ giảm bớt áp lực đối với các khu vực dễ bị tổn thƣơng, tăng thu nhập hộ gia đình để mua thực phẩm nhằm bổ sung hoặc chi trả các khoản phí”.
Theo Ellis (1998), “Đa dạng hóa sinh kế đƣợc định nghĩa là quá trình các gia đình nông thôn xây dựng một danh mục hoạt động đa dạng và các khả năng hỗ trợ xã hội để cải thiện mức sống của họ.