phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có 3 chƣơng CHƢƠNG I: Một số khái niệm và kinh nghiệm phát triển du lịch: Đƣa ra những cơ sở lý luận chung về DLST đã đƣợc các tổ chức, các nhà nghiên cứu trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới công nhận. Từ những khái niệm, đặc trƣng, nguyên tắc hoạt động của DLST làm tiền đề cho bài nghiên cứu để trên cơ sở đó giới thiệu một cách quát nhất về đồi tƣợng, phân tích nguồn tài nguyên và đƣa ra các loại hình du lịch phù hợp có thể ứng dụng cho đối tƣợng nghiên cứu ở phần tiếp theo. CHƢƠNG II: Phân tích thực trạng phát triển du lịch sinh thái hồ Lắk Khái quát các tiềm năng DLST của đối tƣợng nghiên cứu, từ tài nguyên tự nhiên đến tài nguyên nhân văn đƣa ra cách nhìn chung nhất về tiềm năng phát triển DLST của vùng, bên cạnh đó tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển DLST hiện tại của đối tƣợng trên mọi phƣơng diện nhƣ các hoạt động đầu tƣ, quản lý, cở sở vật chất hạ tầng và nguồn lực trong du lịch đang phát triển và hoạt động, những hạn chế còn tồn tại và những khắc phục trong tƣơng lai. CHƢƠNG III: Định hƣớng và giải pháp phát triển DLST hồ Lắk Từ thực trạng phát triển ở trên đƣa ra những định hƣớng phát triển tiếp theo trong tƣơng lại.
Giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại đƣa ra các hình thức thúc đẩy sự phát triển DLST từ công tác xúc tiến quảng cáo, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên phù hợp với các loại hình du lịch. Các hoạt động kêu gọi đầu tƣ và đề xuất các giải pháp cho nguồn nhân lực cho du lịch trong tƣơng lai. 7 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm DLST Du lịch hiện nay đã trở thành một hoạt động phổ biến của nhân loại, là nhu cầu của đại đa số quần chúng và đó cũng là một trong những ngành kinh tế lớn tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội. Du lịch góp phần tạo nguồn thu nhập, tạo việc làm và nâng cao trình độ dân trí.
Trong những thập niên gần đây đi đôi với quá trình phát triển kinh tế là sự biến đổi của cuộc sống, khiến cho con ngƣời luôn có nhu cầu du lịch để trở về với thiên nhiên, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của loại hình DLST trên toàn thế giới. DLST xuất hiện nhƣ một khái niệm khoảng cuối thập niên 1960. Sau này có rất nhiều định nghĩa về DLST. Cho đến nay DLST vẫn còn đƣợc hiểu với nhiều góc độ khác nhau, với tên gọi khác nhau.
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”. “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” định nghĩa về DLST ở việt nam. [1] Trong khuôn khổ nghiên cứu để tài này sử dụng khái niệm về DLST của tổng cục DLST Việt Nam làm cơ sở lý luận cho đề tài. “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho các nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.2 Đặc trƣng, yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST 1.1 Đặc trƣng của DLST Tài nguyên tự nhiên trong DLST là những tài nguyên còn tƣơng đối nguyên sơ.
Môi trƣờng tự nhiên trong DLST còn tƣơng đối chƣa hoặc ít bị xâm hại bởi bàn tay của con ngƣời. DLST hàm chứa những đặc trƣng cơ bản. - Tính giáo dục cao về môi trƣờng: DLST hƣớng con ngƣời tiếp cận với các vùng tự nhiên, các khu bảo tồn có giá trị về sự đa dạng sinh học nhƣng nhạy cảm về môi trƣờng. Hoạt động du lịch gây nên những tác động lớn đối với môi trƣờng.
DLST là hoạt động nh m cân b ng giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trƣờng. - Góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục, nâng cao ý thức con ngƣời bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng, qua đó thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. - Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng: Cộng đồng địa phƣơng là ngƣời chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phƣơng mình. Phát triển DLST đồng cũng thu hút con ngƣời tìm đến các vùng tự nhiên hoang sơ, đa dạng sinh học, chính vì vậy cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng ở tại khu vực đó vì họ là ngƣời hiểu rõ nhất về nguồn tài nguyên của mình.2 Yêu cầu cơ bản để phát triển DLST Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức đƣợc DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao.
Hệ sinh thái tự nhiên đƣợc hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu động vật và thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology) và sinh thái nhân văn (human ecology). Đa dạng sinh thái là một bộ phận và một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo ra các cơ thể sống. Mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống nhƣ: Đất, nƣớc, địa hình, khí hậu…đó là các hệ sinh thái (eco- systems) và các nơi trú 9 ngụ sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats).
(Công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thưởng đỉnh Rio The Jannero về môi trường, 1972) Nhƣ vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên thiên (natural- based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích vì sao hoạt động DLST thƣờng chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các VQG, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc trang trại điển hình. Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST thể hiện ở 2 điểm - Để đảm bảo đƣợc tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách DLST.
Ngƣời hƣớng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phƣơng, để có thể thực hiện tốt nhất vai trò của mình. - Hoạt động DLST đòi hỏi phải có ngƣời điều hành nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thƣờng chỉ quan tâm tới lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết đƣợc những giá trị tự nhiên và văn hóa trƣớc khi những cơ hội này thay đổi hoặc mất đi. Ngƣợc lại, các nhà điều hành DLST phải có sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phƣơng nh m mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao hiểu biết chung cho ngƣời dân và du khách Yêu cầu thứ ba nh m hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trƣờng, theo đó DLST cần đƣợc tổ chúc với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa.
Khái niệm "sức chứa đƣợc hiểu từ nhiều khía cạnh. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lƣợng khách đến một địa điểm 10 vào cùng một thời điểm. Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây đƣợc hiểu là số lƣợng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng nhƣ nhu cầu sinh hoạt của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lƣợng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống, văn hóa, kinh tế - xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thƣờng của cộng đồng địa phƣơng có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập. Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa đƣợc hiểu là lƣợng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lƣợng khách vƣợt quá giới hạn này thì năng lực quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hƣởng đến môi trƣờng và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lƣợng, nhƣ vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tƣơng đối b ng phƣơng pháp thực nghiệm. Một điểm cần lƣu ý trong quá trình xác định sức chứa là quan niệm về sự quá đông của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau.
Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý. Điều này cần đƣợc tiến hành đối với các nhóm đối tƣợng khách và thị trƣờng khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. DLST không thể đáp ứng đƣợc các nhu cầu của tất cả cũng nhƣ mọi loại khách.