phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc luận văn chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Đặc điểm văn hóa truyền thống của cộng đồng ngƣời Tày tại thôn 12, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Chƣơng 3: Giải pháp, khuyến nghị tăng cƣờng hiệu quả bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của cộng đồng ngƣời Tày tại thôn 12, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm thao tác 1.1 Khái niệm văn hóa Dẫn theo tác giả Trần Quốc Vƣợng, UNESCO (1982) đƣợc thông qua trong bảng tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982 tại Mêhicô nhận định: Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng. Văn hoá đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vƣợt trội bản thân [64, tr 23 -24]. Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đƣa ra quan niệm văn hoá, với nhận thức văn hoá vừa là nhu cầu, vừa là kết quả, thƣớc đo ý nghĩa sự tồn tại của con ngƣời. Hồ Chí Minh từ năm 1943 đã đƣa ra quan niệm: Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng 13 ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [40, tr. Văn hoá có mặt trong các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, là kết quả tƣơng tác, ứng xử đối với môi trƣờng sống của con ngƣời. Văn hóa của một tộc ngƣời rất thiêng liêng, quý giá, nó tạo nên cái đặc thù của một dân tộc.
Văn hóa truyền thống của ngƣời Tày đƣợc khơi nguồn từ cuộc sống lao động, nó đƣợc hình thành trong lịch sử lâu dài của tộc ngƣời, đƣợc đúc kết từ kinh nghiệm sống, đƣợc lƣu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con ngƣời. Điển hình nhƣ các các món ăn truyền thống: cơm lam, bánh khảo, xôi ngũ sắc, chiếc áo chàm, lễ hội Lồng Tồng, Nàng Hai,… Nó tồn tại tự nhiên không thể ép buộc nhƣng đòi hỏi phải biết giữ gìn, bảo lƣu.2 Khái niệm văn hóa truyền thống - Khái niệm truyền thống Theo từ nguyên của tiếng la tinh truyền thống là “Traditio”, nghĩa là nối đời, nối truyền. Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) cho rằng: Truyền thống là quá trình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác những yếu tố xã hội và văn hóa, những tƣ tƣởng, chuẩn mực xã hội, phong tục, tập quán, nghi lễ… và đƣợc duy trì trong các tầng lớp xã hội và giai cấp trong một thời gian dài. Truyền thống là cốt lõi, là bộ phận bền vững nhất của văn hóa tộc ngƣời [27, tr.
Trong truyền thống bao gồm hai mặt những mặt giá trị và phi giá trị. Do đó, mỗi tộc ngƣời phải phân biệt và xác định đƣợc giá trị văn hóa truyền thống. Những truyền thống văn hóa tốt đẹp cần đƣợc phát huy và trao truyền qua nhiều thế hệ khác nhau. Ngƣợc lại, những mặt lỗi thời, lạc hậu và cản trở sự tiến bộ thì phải khắc phục hoặc loại bỏ.
14 - Khái niệm văn hóa truyền thống Và theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa truyền thống (Traditional culture) là các tập quán và biểu tƣợng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì đƣợc lƣu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lƣu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt” (Ngay cả trong trƣờng hợp các tập quán và biểu tƣợng đƣợc hình thành trong quãng thời gian không lâu). - Giá trị và giá trị văn hóa Mỗi một sản phẩm văn hóa đều có những giá trị nhất định vì thế nó đƣợc xã hội lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bất kể không gian và thời gian. Trên thực tế, khó có một khái niệm nào diễn tả trọn vẹn nội hàm của thuật ngữ giá trị. Theo tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, thì giá trị là: “Cái đƣợc xác định có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần: quyển sách này rất có giá trị; xác định hiệu lực của một việc làm: giấy giới thiệu này có giá trị trong 3 ngày” [65, tr.
Tác giả Nguyễn Thịnh cho rằng: Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm cá nhân, vì vậy, giá trị của sự vật, hiện tƣợng không giống nhau ở từng cá nhân khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những giá trị trong nhiều nền văn hóa khác nhau đều thừa nhận và có xu hƣớng trƣờng tồn nhƣ tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc…” [52, tr. Từ các khái niệm về giá trị, chúng ta có thể khái quát: Giá trị văn hóa là những hệ giá trị các sản phẩm văn hóa của con ngƣời, đƣợc con ngƣời tạo ra trong quá trình lao động sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mình trong cộng đồng xã hội. Trong đó, hệ phổ quát về giá trị văn hóa mà con ngƣời, dù ở nền văn hóa nào cũng muốn đạt đến là Chân (cái thật, cái đúng) – Thiện (cái tốt, cái tử tế) – Mỹ (cái đẹp).3 Khái niệm bảo tồn và phát huy 15 - Khái niệm bảo tồn Trong thời đại hội nhập toàn cầu hóa, các quốc gia nói chung và các tộc ngƣời nói riêng có nhiều cơ hội giao lƣu và tiếp nhận nhiều luồng văn hóa khác nhau.
Bên cạnh đó, mỗi tộc ngƣời cũng đang chung tay bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa riêng của mình. Hiện nay, thuật ngữ bảo tồn và phát huy đƣợc quan tâm đặc biệt, trong công trình Di sản văn hóa Việt Nam – bản sắc và những vấn đề về quản lý và bảo tồn, tác giả Nguyễn Thịnh cho rằng “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ đƣợc giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết” [52, tr. Tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, bảo tồn là “Giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hóa các dân tộc” [66, tr. Hay “Bảo tồn là giữ cho còn: bảo tồn danh giá, bảo tồn cổ vật” của các tác giả trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Nxb Từ điển Bách khoa xuất bản năm 2014 [46, tr.
Ở một góc độ tiếp cận khác, nói một cách ngắn gọn nhƣ tác giả Đào Duy Anh trong quyển Từ điển Hán Việt thì bảo tồn là “giữ gìn lại” [1, tr. - Khái niệm phát huy Đồng hành cùng thuật ngữ bảo tồn chính là phát huy. Thuật ngữ bảo tồn và phát huy là một nguyên tắc rất quan trọng trong xu thế hiện nay. Theo các tác giả của cuốn Từ điển tiếng Việt thì “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [46, tr.
Theo tác giả Võ Quang Trọng Bảo, phát huy có nghĩa là những “hành động nhằm đƣa di sản văn hóa vào trong việc thực hiện xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con ngƣời [9, tr. Theo góc nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 2013 thì “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: 16 phát huy sức mạnh tập thể” [66, tr. Vì vậy, phát huy giữ một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển giá trị văn hóa đặc trƣng của một tộc ngƣời, một quốc gia tuy hòa nhập nhƣng không hòa tan trong xu thế hiện nay.4 Khái niệm di dân Theo Đại từ điển tiếng Việt “Di dân chính là sự di chuyển dân cƣ ra khỏi một ranh giới hành chính nào đó đến nơi định sẵn theo những mục đích nhất định” [66, tr. Hay: Di dân là quá trình phân bố lại lực lƣợng lao động, dân cƣ và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội… Di dân và quá trình tập trung dân số ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trƣờng của các vùng miền đất nƣớc [4, tr.
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con ngƣời trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cƣ trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cƣ. Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân, dân cƣ từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cƣ trú mới trong một khoảng thời gian nhất định [4, tr.5 Khái niệm sinh kế Theo tác giả Nguyễn Nhƣ Ý “Sinh kế chính là việc làm, cách để kiếm ăn, sinh sống” [66, tr. Theo Phạm Minh Hạnh, tác giả Bùi Đình Toái nhận định: Sinh kế là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con ngƣời kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn.