Chương 1: Tổng quan về không gian kiến trúc cảnh quan tuyến du văn hóa chùa Hương. Một số khái mm khoa học cơ bản.1 Khái niệm cảnh quan: Tùy theo mỗi ngành có một cách quan niệm khác nhau về cảnh quan.Theo các nhà KTCQ: Phong cảnh là một không gian hạn chế, mở ra những điểm nhất định.Đó là những thành phần thiên nhiên và nhân tạo mang đến cho con người những cảm xúc và tâm trạng khác nhau.Còn cảnh quan là một tổ hợp phong cảnh có thể khác nhau, nhưng tạo nên một biểu tượng thống nhất về đặc điểm thiên nhiên chung của địa phương. Con người chịu tác động của môi trường cảnh quan thông qua tất cả các giác quan (chủ yếu là thị giác). Môi trường này được hình thành do hệ quả tác động tương hỗ của các thành phần cảnh quan.Hệ thống mối quan hệ này đã tạo nên nét đặc trưng cho mỗi vùng với kiểu cảnh quan khác nhau.
cách phân loại mà ta có các loại cảnh quan như: Cảnh quan đô thị, cảnh quan nông thôn hay cảnh quan biển, cảnh quan núi, đồng bằng. Khái niệm kiến trúc cảnh quan: «Theo TS. KTS Han Tat Ngan, “Kiến trúc cảnh quan là môn khoa học tông hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khac nhau như quy hoạch không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc công trình, điêu khắc, họi họa, .nhim giải quyết những vấn đề môi trường nghỉ ngơi, giải trí, thiết lập và cải thiện môi sinh, bảo vệ môi trường, tổ chức nghệ thuật kiến trúc”. - Kiến trúc cảnh quan bao gồm thành phần tự nhiên(địa hình, mặt nước, cây xanh và động vật, không trung) và thành phần nhân tạo(kiến trúc công, trình, giao thông, trang thiết bị hoàn thiện công trình, tranh tượng hoành tráng.
Mối tương quan tỉ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thành phần này luôn biến đồi theo thời gian, điều này làm cho kiến trúc cảnh quan luôn vận động và phát triển. Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan: a. TỔ chức không giân kiến trúc cảnh quan là một hoạt động định hướng của con người nhằm mục đích tạo dựng, tô hợp và liên kết các không. gian chức năng trên cơ sợ tạo ra sự cân bằng và mối quan hệ tông hòa của hai nhóm thành phần tự nhiên và nhân tạo của kiến trúc cảnh quan.
Trong đó thiên nhiên là nền của kiến trúc cảnh quan. Những nhân tố ảnh hưởng đến tô chức không gian kiến trúc cảnh quan bao gồm: ~ Các thành phần của kiến trúc cảnh quan: với thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo. ~ Các yêu cầu của không gian kiến trúc cảnh quan: yêu cầu sử dụng, yêu cầu thâm mỹ, yêu cầu bền vững, yêu cầu kinh tế. ~ Quy luật tổ chức không gian: + Cơ sở bố cục cảnh quan: Giá trị thâm mỹ của không gian kiến trúc cảnh quan được con người cảm thụ qua các giác quan, trong đó cảm thụ bằng.
thị giác là chủ yếu. Về mặt thị giác, 3 yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cảm nhận và là cơ sở cho bố cục cảnh quan gồm có: điểm nhìn, tầm nhìn và góc nhìn. + Tạo hình không gian: Tắt cả các không gian tự nhiên và không gian nhân tạo đều được tạo thành từ 3 yếu tố cơ bản là: mặt nền, mặt trần và mặt đứng ngăn không gian. Tùy theo thành phần về ba yếu tố trên, không gian nói chung có thể chia thành ba loại chính sau: không gian đóng, không gian mở và không gian vừa đóng vừa mở.
Tạo cho không gian một hình dáng phù hợp, quy mô, ính chất hợp lý với chức năng sử dụng và nhu cầu thẩm mỹ của con người là vấn đề quan trọng trong việc tô chức không gian kiến trúc cảnh quan. «_ Di tích lịch sử văn hóa: Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. © Khu di tich lịch sử văn hóa: (là khái niệm chưa có trong luật di sản văn hóa). “Theo quan niệm của đề tài, là một di tích hoặc một cụm di tích tôn giáo tín ngưỡng có khả năng phát triển du lịch, được quy hoạch, đầu tư, tôn tạo và mở rộng thêm không gian phụ trợ để phục vụ cho nhu cầu thăm quan, du lịch của con người đương đại.
“Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, các di tích có các điều kiện sau sẽ được trở thành khu du lich văn hóa lich sử: ~ Có vị trí trong phạm vi không gian được ưu tiên phát triển du lịch đã được xác định trong chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2030. - Được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia hoặc cấp quốc gia đặc biệt. - Đã được khoanh vùng bảo vệ tuyệt đối và tương đối (ving 1 va ving 2). Nếu di tích chưa có vùng bảo vệ tương đối nhưng có khả năng mở rộng không gian xung quanh thành vùng bảo vệ tương đối thì vẫn được xét là đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Không gian KTCQ tại các khu di tích: là tổ hợp hai loại không gian cũ và mới ( không gian KTCQ truyền thống và không gian KTCQ du lịch) thành một hệ thống không gian hài hòa và bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu bảo vệ di tích và phát triển du lịch Tổ chức không gian KTCQ tại các khu di tích: Là hoạt động nghiên cứu định hướng của con người đối với không gian KTCQ tại các khu di tích tôn giáo tín ngưỡng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của các hoạt động tham quan, du lịch mà vẫn bảo tồn được các giá trị cảnh quan truyền thống của di tích (bao. gồm giá trị vật thể và phi vật thê), 1. Thực trạng không gian kiến trúc cảnh quan tuyến du lịch văn hóa chùa Hương. 1 Lịch sử hình thành tuyến du lịch văn hóa chùa Hương.
“Theo Phật thoại thì đây là nơi Đức Quan Thế Âm Bồ Tát tu hành đắc đạo. Bồ Tát đã ứng thân làm công chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm, tu hành 9 năm trong động Hương Tích. Khi đắc đạo rồi Người trở về chữa bệnh cho cha, trừ nghịch cho đất nước và phô độ chúng sinh. Khi câu chuyện này được truyền bá ra, các thiều sư, cô đức đã chống.
gây tích tới đây, nhàn du mây nước. Kết quả ba vị hòa thượng thời Lê Thánh 'Tông(1442-1497) da tìm được động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù. Kế từ đó ông Hương Tích được gọi là chùa Trong, Thiên Trù được gọi là chùa Ngoài, rồi người ta lấy tên chung của cả hai chùa và cả khu vực là Chùa Hương, hay “Hương Thiên Bảo Sái”. Hương Tích có nghĩa là dấu vết thơm tho, ý nói đây từng là nơi tu hành của Bồ Tát Quan Thế Âm, còn Thiên Tri dat theo âm Hán Việt có nghĩa là Bếp Trời, vì chùa nằm trong khu vực ứng với một ngôi sao chủ về việc ẩm thực.
Do đó nói đi trẫy hội chùa Hương tức là đi chiêm bái cả khu vực Hương- Thiên của vùng núi Hương Sơn. năm có mấy chục vạn lượt người tới đây để dâng lên đức Phật một lời nguyên cầu, một nén tâm hương hoặc thỏa hồn bay bồng hòa quyện với thiên nhiên ở vùng núi thơm tho có in dấu Phật này. Kê từ khi vua Lê Thánh Tông đi tuần phú phương Nam lần thứ hai và trư vị Liệt Tô trống tích trượng khai sơn phát hiện đến nay. Trải qua mấy trăm năm với chiều sâu lịch sử và bề dầy truyền thống văn hóa đã tô bồi cho.
vùng thiên nhiên hùng vĩ này một bức tranh “Ký sơn tú thủy”. Dãy núi đã bị xâm thực lâu đời của thiên nhiên nên mạch nước khoét núi đã tạo thành nhiều hang động với vẻ đẹp tự nhiên. Năm 1687 hòa thượng trần Đạo Viên Quang mới chống thiền trượng hoàng truyền và xiên dương đạo Phật khiến vùng này trở thành nơi linh sơn phúc địa. Đến đầu năm 1947 chùa Hương đã trải qua 9 đời tô sư nói tiếp xây dựng và luôn được sự ủng hộ của thiện tín muôn phương và nhân dân sở tại.
Ngày 17/2/1947 giặc Pháp đã tàn phá Thiên Trù và Tiên Sơn nhưng sau hòa bình lập lại với sự chỉ đạo của ngành văn hóa và trủ trương đúng đắn của Nhà nước, thắng cảnh chùa Hương không những được khôi phục mà còn được phat triển n hôm nay[32]. Những đặc điểm cơ bản tuyến du lịch văn hóa chùa Hương Chùa Hương là cách gọi trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thê văn hóa- Tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vai ngôi chùa thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa vùng này là chủa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.
Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỉ 17, dưới thời nhà Lê- Chúa Trịnh. Chùa Hương là một công trình kiến trúc rải rác gồm các suối và thung lăng. Khu chủa chính là chùa ngoài (chùa Trò hoặc chùa Thiên Tra), Chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn là một xã thuộc huyên My Đức cách trung tâm Hà Nội 60 km về phía Nam và cách trung tâm huyện Mỹ Đức; Phía Đông giáp tỉnh Hà Nam; Phía Tây và Nam giáp tinh Hòa Bình. 10 Khu du lịch thắng cảnh chùa Hương bao gồm phân giới hành chính của.
4 xã Hương Sơn, An Tiến, Hùng Tiến và An phú thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội, với diện tích 5131 ha[32] 1. Thực trạng kiến trúc cảnh quan tuyến du lịch văn hóa chùa Hương(lấy đoạn từ bến Yến đến bến Trò làm đối tượng nghiên cứu) © Dic điểm cảnh quan chung của khu du lịch văn hóa chùa Hương. Đặc điểm hình thành, địa chất thủy văn: Chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn là một xã thuộc huyện My Đức cách trung tâm Hà Nội 60km về phía Nam và cách trung tâm huyện Mỹ Đức 10 km về phía Đông Nam, Phía Bắc giáp xã An Tiến, hyện Mỹ Đức; phía Đông giáp tỉnh Hà Nam; phía Tây và Nam giáp tỉnh Hòa Bình. Hương Sơn mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá rõ nét.
Đặc điểm cảnh quan tự nhiên Địa hình nơi đây chủ yếu là hệ thống núi và cao nguyên đá vôi, có nhiều dãy núi đa dạng, hang động. phong cảnh có giá trị thắng cảnh.