CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Văn hóa và tâm linh 5. Khái niệm văn hóa Tìm hiểu văn hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, trong điều kiện sự phát triển của khoa học kỹ thuật- công nghệ cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia như hiện nay thì vấn đề văn hóa càng trở nên có ý nghĩa sâu sắc, rõ rệt.
Theo một số tài liệu, thuật ngữ “Văn hóa” có từ thời cổ đại Hy Lạp, nó bắt nguồn từ chữ La tinh “Culture”. Culture theo nghĩa đen ban đầu là khai hoang, trồng trọt, chăm sóc cây trồng. Về sau nó được chuyển sang nghĩa bóng là chăm nom, giáo dục, đào tạo khả năng của con người về mọi mặt. Trong sách Quản trị học (Phùng Minh Đức và cộng sự, 2014) đã nêu một định nghĩa quan trọng về văn hóa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO): “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Các nhà nghiên cứu quản trị kinh doanh quốc tế thì cho rằng văn hóa là đối tượng phức tạp và đa dạng gồm các yếu tố: ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị và thái độ, các cư xử và thói quen, thể chất và thẩm mỹ, giáo dục và thái độ xã hội (Bùi Lê Hà và cộng sự, 2011). Có hai dạng văn hóa: Văn hóa mạnh và văn hóa yếu. Văn hóa mạnh tồn tại ở những tổ chức có những giá trị cốt lõi được phát huy mạnh mẽ, chia sẽ rộng rãi trong xã hội và có tầm ảnh hưỡng đến con người mạnh hơn. Văn hóa là nhân tố cơ bản nhất có tính quyết định đến ý muốn và hành vi của con người.
Hiện nay, với sự hội nhập thương mại sâu rộng, kéo theo sự giao thoa giữa các nền văn hóa, có một số yếu tố văn hóa đã và đang thay đổi kéo theo những khuynh hướng biến đổi mới, hình thành những sản phẩm mới, thị trường mới. Trong quá trình toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay, với xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế đã làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội giữa các quốc gia. Điều đó, càng làm cho các quốc gia, các dân tộc phải có trách nhiệm gìn giữ, giao lưu, khai thác, phát huy các yếu tố văn hóa để mang lại những giá trị vật chất và tinh thần bền vững cho xã hội. Tổ chức Khoa học Quốc tế đã ước tính rằng, mỗi năm sản phẩm trí tuệ tăng gấp đôi và cứ 100 năm thì trong tương lai không xa, văn hóa sẽ là động lực mạnh nhất, trực tiếp nhất trong sự tăng trưởng về kinh tế.
Thực tiễn cho thấy bài học thành công của Singabo, Nhật Bản và Hàn Quốc trong phát triển kinh tế, xã hội chính là đã biết kết hợp yếu tố khoa học - kỹ thuật hiện đại với những giá trị của văn hóa truyền thống phương Đông Nho giáo. Khái niệm tâm linh Trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2006) đã định nghĩa tâm linh với 02 nghĩa: một là: linh hồn, tinh thần; hai là: khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm. Thuật ngữ “tâm linh” nếu được dịch sang nghĩa với một từ tiếng Pháp tương đương là “intelligence”, nghĩa là trí tuệ, trí năng. Trong cuốn sách “Tâm linh Việt Nam” (Nguyễn Duy Hinh, 2009) có đoạn viết rằng: “Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái thiêng (linh) trong tự nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền lôgíc không phân biệt thiện ác”.
Trong sách “Văn hóa tâm linh” (Nguyễn Đăng Duy, 2009) tác giả đã lý giải: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”. Trong nghiên cứu “Tìm hiểu các định nghĩa khác nhau về tâm linh” (Hồ Bá Thâm, 2014) có đoạn viết: tâm linh hiểu theo nghĩa khái quát nhất có hai lớp nghĩa, hai tầng cơ bản liên quan với nhau: nghĩa 1) tâm linh là bí ẩn vũ trụ và bí ẩn tâm trí não người; nghĩa 2) tâm linh là sự thiêng hóa chúng ở mức độ nào đó. Nghĩa thứ nhất có tính tự nhiên, khách quan, làm tiền đề; còn nghĩa thứ hai là tính chủ quan, làm mặt tâm lý xã hội. Trong tác phẩm nghiên cứu về “Một số giả thiết khoa học làm sáng tỏ hơn về thế giới tâm linh” (Đào Thanh Oai, 2010) đã đề xuất hai cách hiểu về tâm linh.
Theo cách hiểu khoa học: Những người coi là có đầu óc khoa học nhìn nhận thế giới tâm linh đó về bản chất vẫn là thế giới của chúng ta đang sống. Người ta cho rằng không có ma quỷ thần linh. Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ coi đó là một truyền thống, là một nét văn hóa để tưởng nhớ đến tổ tiên mà không hi vọng gì tổ tiên phù hộ cho mình. Hành vi của người này được xem là một hành vi văn hóa (tôn giáo chỉ là một phần của văn hóa).
Còn theo cách hiểu thông thường: Người không có đầu óc khoa học nghĩ về thế giới tâm linh là một thế giới gắn liền với ma quỷ và thần linh. Ma quỷ, thần linh có thể phù hộ và có thể hại người và sống ở không gian khác đan xen vào thế giới mà chúng ta đang sống. Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ nghĩ rằng tổ tiên sẽ phù hộ. Hành động thắp hương của người này được xem là hành vi tín ngưỡng tôn giáo.
Có thể thấy, tâm linh là hiện tượng tâm lý của xã hội, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và cả chính trị, vì vậy có tính chất phức tạp, rất dễ bị lợi dụng. Thực tế, trong quá trình phát triển xã hội như hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, trình độ, nhận thức của con người ngày càng phát triển; song, bên cạnh đó còn nhiều yếu tố, nhiều hiện tượng chưa thể lý giải được như vấn đề rủi ro trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thiên tai, giàu nghèo, chức quyền, bệnh tật và những hiện tượng huyền bí khác. Trong xu thế phát triển, con người chúng ta đang mong muốn tìm hiểu, khám phá những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống, có người đi du lịch tâm linh đến với các di tích, công trình tôn giáo, tham gia các lễ hội là để tìm về cội nguồn, để tưởng nhớ công đức của các anh hùng dân tộc, bày tỏ tôn kính thánh thần, thể hiện tự do tín ngưỡng và chiêm ngưỡng các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng. Có người đi du lịch là để được tham quan thắng cảnh, được thưởng thức không khí trong lành, yên tĩnh, thưởng thức nghệ thuật văn hóa dân gian, được tham gia vào các trò chơi, được giải tỏa tâm linh và thưởng thức đặc sản, hòa hợp với cộng đồng.
Lại có người suy nghĩ đến chốn linh thiêng để cầu may mắn, cầu duyên nợ, để có được tình yêu, gặp gỡ, giao tiếp,…. và không ít người lợi dụng vấn đề “tâm linh” nhạy cảm đã làm những việc tiêu cực. Vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có thông báo chấn chỉnh về tình hình lễ hội, tâm linh, ngoại cảm; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có các văn bản quy hoạch, phát triển văn hóa, phát triển du lịch văn hóa, du lịch tâm linh nhằm định hướng cho mọi người có nhận thức đúng đắn về vấn đề tâm linh, thực hiện nếp sống văn minh, phê phán các hành vi lợi dụng lễ hội, tín ngưỡng, tâm linh để hoạt động mê tín, dị đoan, kinh doanh trục lợi. Phân biệt tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan Theo các nhà nghiên cứu, hoạt động tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo đều là hiện tượng xã hội đa chiều, là nhu cầu của một bộ phận nhân dân.
Tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo tuy có sự khác nhau về ngữ nghĩa, nội dung, song trong thực tế cuộc sống lạicó mối quan hệ khá chặt chẽ, khó phân biệt ranh giới giữa chúng. Tại Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) đã giải thích khá rõ thuật ngữ, tín ngưỡng và tôn giáo. Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng. Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác. Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo.
Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo. Mê tín dị đoan là tin theo một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn hại về sức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội.
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực xuất hiện từ lâu và vẫn đang tồn tại trong xã hội hiện nay.