Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm vai trò Tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định chúng ta gọi đó là vai trò. Vai trò theo từ điển tiếng Việt là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, phát triển chung của một tập thể, một tổ chức.
Vai trò được hiểu đơn giản là một phân vai được đóng vai bởi một người nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể. Và mỗi cá nhân trên toàn thế giới này đóng vai trò khác nhau trong cuộc sống của họ. “Vai trò xã hội là mô hình hành vi, tức là trong cùng điều kiện, hoàn cảnh xã hội nhất định, những cá nhân có cùng vị thế xã hội giống nhau đều phải thực hiện những hành vi giống nhau [11]. Vai trò xã hội không có tính cách tưởng tượng và nhất thời, nó được học trong diễn tiến xã hội hóa, được thực hiện trong những đoàn thể khác nhau mà con người tham gia vào và trở thành một phần nhân cách của con người.
Khi có một số khuôn mẫu tác phong trong tình trạng hỗ tương, tương quan với nhau được tập trung quanh một nhiệm vụ xã hội thì chúng ta gọi sự phối hợp này là một vai trò xã hội. Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Con người không giống thế giới sinh vật khác và trở nên tiêu biểu nhờ có văn hóa. Hiện nay, có nhiều khái niệm về văn hóa, nhưng tựu chung văn hóa bao gồm hai khía cạnh: “khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện” [9].
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. 15 Theo UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [25]. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [35]. Trong cuốn Từ điển xã hội học cho rằng: Văn hóa - vô sở bất tại; Văn hóa - không nơi nào không có [33]. Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người thì nơi đó có văn hóa.
Theo Trần Ngọc Thêm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [28]. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn thông qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.
Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [29]. 16 Tuy nhiên, thực tế là rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra nhưng đến hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa nào là thống nhất và thỏa mãn được hàm ý sâu rộng của văn hóa. Trong luận văn này, khái niệm văn hóa có liên quan đến mọi mặt đời sống của dân tộc Tày, Nùng từ ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị đến văn hóa vật chất như nhà cửa, quần áo phục vụ cho DLCĐ của người dân bản địa. Khái niệm văn hoá truyền thống Văn hoá là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại với con người, tự nhiên và xã hội.
Truyền thống được hiểu là những yếu tố của văn hoá, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp, nhóm xã hội với một quá trình lâu dài; truyền thống được thể hiện ở định chế xã hội, chuẩn mực và hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống,…Truyền thống tác động đến mọi xã hội và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở khái niệm về văn hoá và truyền thống, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về văn hoá truyền thống như sau: Văn hoá truyền thống là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, được lưu giữ truyền từ đời này sang đời khác [29]. Trong luận văn, văn hóa truyền thống được tiếp cận thông qua ngôn ngữ, trang phục, văn nghệ và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân bản địa khi họ giao tiếp với nhau và khi họ giao tiếp với khách du lịch. Khái niệm cộng đồng Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó.
Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ Âu - Mỹ, như trong tiếng Pháp là “communité”, tiếng Anh là “community”, tiếng Đức là “Gemeinschaft” nhưng với những ý nghĩa khác nhau trong những khung cảnh khác nhau. 17 Đây là một khái niệm cơ bản của khoa học xã hội & nhân văn, theo một số nghiên cứu đã định nghĩa “Cộng đồng là những cộng đồng được gọi tên như đơn vị làng, bản, xã, huyện.những người chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, thân phận xã hội” [27]. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2000), cộng đồng được hiểu là “một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [20].
Trên thực tế cộng đồng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng đều có điểm chung như sau: - Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người - Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc riêng - Các thành viên của cộng đồng phải tự cảm thấy có sự gắn kết với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng. - Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết cộng đồng, nhưng quan trọng nhất chính là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm, tạo nên ý thức cộng đồng. - Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động, ứng xử chung của cộng đồng. Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chung nhất như sau: Cộng đồng là những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống, có cùng sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng.
Trong đề tài luận văn, cộng đồng được tiếp cận trên cơ sở toàn bộ cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng hiện sinh sống tại huyện Trùng Khánh tham gia vào DLCĐ. Khái niệm du lịch cộng đồng Thuật ngữ “DLCĐ” được đề cập từ những năm 1980 ở các nước thuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc. Khách du lịch đi tham quan các làng bản, tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán lễ hội của người dân địa phương, khám phá hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên vẫn còn giữ được những nét tự nhiên, hoang dã. Theo Hausle và Strasdas (2009): “DLCĐ là mô hình phát triển du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý.
Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”. Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn quản lý [19]. Viện Miền núi cho rằng: “DLCĐ là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. DLCĐ khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng.
DLCĐ là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương” [16]. “DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án”. “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”. “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển.