CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về văn hóa tổ chức 1. Các quan niệm về văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại, hay nói cách khác, văn hóa có từ thuở bình minh của xã hội loài người. Khái niệm văn hóa có nguồn gốc từ Latin gọi là cultus.
Cultus có nghĩa là trồng trọt, cả về trồng trọt cây trái tự nhiên và trồng trọt tinh thần nghĩa là trồng trọt thích ứng với thiên nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo con người hoặc cộng đồng trở nên tốt đẹp hơn. Ở phương Đông, văn hóa trong tiếng Hán có nghĩa gồm văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ của con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách cai trị đúng đắn của người đứng đầu, hóa là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống. Như vậy co thể nói rằng văn hóa ở phương Đông và phương Tây đều mang nghĩa chung là sự vun trồng nhân cách con người trong xã hội, là hoạt động tinh thần hướng đến những điều tốt đẹp. (Dương Thị Liễu, 2008) [7] Cùng với quá trình phát triển của nhân loại, khái niệm văn hóa được bổ sung thêm với những nội dung mới.
Hiện nay số lượng khái niệm về văn hóa ngày càng được tăng thêm rất nhiều và khó mà thống kê hết được. Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa. Đó là do bản thân các vấn đề văn hóa rất phức tạp. Vì vậy khi nghiên cứu một vấn đề có liên quan đến văn hóa, người nghiên cứu cần làm rõ thuật ngữ này.
Trong lĩnh vực khoa học, “văn hoá” luôn là một chủ đề nghiên cứu của nhiều ngành, nghề, đối tượng, chuyên môn khác nhau. Từ đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, phản ánh cách nhìn và cách tiếp cận đa dạng và phong phú từ nhiều góc độ thể hiện ở bảng 1.1: Các quan niệm về văn hóa STT Quan niệm Tác giả Văn hóa là một khái niệm phức tạp bao gồm tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, và Avruch (1998) 1 những khả năng và thói quen khác mà con người có được [23] trong xã hội. Văn hóa bắt nguồn từ kinh nghiệm, cách tổ chức, học tập 2 và sáng tạo của từng cá nhân trong xã hội, bao gồm những Avruch (1998) hình ảnh và ý nghĩa được truyền lại từ thế hệ trước. [23] Văn hóa là tập hợp những đặc điểm phân biệt các thành Hofstede (1990) 3 viên của nhóm này với nhóm khác.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình Trần Ngọc Thêm 5 hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người (2004) với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [15] Văn hóa là một tập mờ của các giả định cơ bản, giá trị, định hướng cuộc sống, niềm tin, chính sách, thủ tục và Spencer & Oatey 6 chuẩn mực hành vi được chia sẻ bởi một nhóm người, và (2008) ảnh hưởng đến hành vi của mỗi thành viên. [85] (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Có thể rút ra một số kết luận sau về “văn hoá” như sau: - Văn hoá là một phạm trù có vai trò quan trọng và tác động rất lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống con người. Chính vì vậy, nó luôn là đối tượng được con người nghiên cứu và việc nghiên cứu vai trò và biện pháp gây ảnh hưởng của nó đến hành vi và sự phát triển của con người có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện cuộc sống con người; - Văn hoá luôn được thể hiện và có thể nhận diện thông qua những dấu hiệu rất đặc trưng - biểu trưng về bản sắc văn hoá - nhất định. Như vậy văn hóa có thể được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của hoạt động của con người trong các quan hệ với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội 8 được lưu giữ, truyền thụ, tiếp biến từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng, hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Từ những hoạt động của con người trong các mối quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội đã hình thành nên một lối sống, một cách thức ứng xử, một thái độ. của con người đối với vũ trụ và đối với nhau, được biểu hiện thành những giá trị, những hệ thống chuẩn mực xã hội, những quan niệm và những biểu tượng hay hệ tư tưởng và triết lý sống. Khái niệm về văn hóa tổ chức Văn hóa tổ chức hay là một khái niệm được biết với các cái tên khác như văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa kinh doanh. Là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ qua, các định nghĩa về khái niệm này còn rất khác nhau phản ánh sự mới mẻ của vấn đề, tình trạng chưa thống nhất về cách tiếp cận, mối quan tâm, phạm vi ảnh hưởng và vận dụng ngày càng rộng của những khái niệm này.
Mặc dù thuật ngữ “văn hóa tổ chức” xuất hiện khá muộn, nhưng khái niệm này đã được vận dụng khá sớm trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp ở các nước phương Tây dưới tên gọi là “văn hóa”. Văn hóa tổ chức biểu thị sự đồng thuận trong nhận thức của tất cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng phân biệt giữa một tổ chức này với các tổ chức khác (Forehand, 1964) [40] Có thể nhận thấy, “văn hoá” cũng được rất nhiều nhà quản lý quan tâm nghiên cứu với mục đích đưa những kiến thức và hiểu biết về tác động và cách thức gây tác động đối với hành vi con người vào các biện pháp quản lý liên quan đến con người ở cấp độ các tổ chức, doanh nghiệp hay nhóm xã hội nhỏ hơn trong doanh nghiệp (Denison, 1990; Schein, 1990) [34,80]. Với góc nhìn đó, văn hoá và ảnh hưởng của nó trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà quản lý, lý thuyết và thực hành, trong giai đoạn toàn cầu hoá, khi phạm vi hoạt động doanh nghiệp đã mở rộng ra ở một thị trường “đa văn hoá”, sức mạnh của nhân tố “con người” trong doanh nghiệp đã trở thành yếu tố quyết định sức mạnh của tổ chức, sự phát triển và tiến bộ của con người, cả trong doanh nghiệp lẫn ngoài xã hội, đã trở thành trọng tâm quản lý cần được ưu tiên hàng đầu. Xây dựng và phát triển đặc trưng văn hoá riêng của doanh nghiệp đã trở thành một mục tiêu quản lý ở nhiều tổ chức, doanh nghiệp hiện nay.
9 Tương tự như đối với “văn hoá”, “văn hoá tổ chức” cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, cho đến nay cũng có rất nhiều cách gọi tên, như văn hoá doanh nghiệp, văn hoá tổ chức, văn hoá kinh doanh…, cũng như cách định nghĩa về thuật ngữ này.2: Tổng hợp các định nghĩa về văn hóa tổ chức Tác giả Năm Định nghĩa Forehand và Von Tập hợp các đặc điểm mô tả doanh nghiệp và phân 1964 Gilmer [40] biệt với các tổ chức khác Tichy [88] 1982 Chất keo đặc biệt để gắn kết doanh nghiệp lại với nhau Là hệ thống những giá trị được chia sẻ và niềm tin Uttal [92] 1983 được tương tác với con người, cấu trúc doanh nghiệp và hệ thống quản lí để tạo ra chuẩn mực hành vi Các ngầm định, giá trị và niềm tin được chia sẻ bởi Schein [79] 1985 các thành viên trong doanh nghiệp Là một hệ thống những chuẩn mực hiện hữu trong tổ Maehr và Braskamp 1986 chức chứa đựng những giá trị và niềm tin được chia [64] sẻ trong doanh nghiệp Những giá trị và hành vi được tin tưởng để lãnh đạo Schein [80] 1990 thành công và truyền lại cho những thành viên mới. Những đặc điểm tâm lý ảnh hưởng đến nhận thức và Fletcher và Jones [42] 1992 hành vi của người lao động Là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành Phạm Xuân Nam [10] 1996 viên cuả một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên Là một tập hợp về giả định, giá trị và tập tục, lễ nghi Howard [52] 1998 được chia sẻ trong tổ chức Là các giá trị ngầm định, niềm tin và nguyên tắc cơ bản được xem là nền tảng tảng của hệ thống quản trị Denison [36] 2000 doanh nghiệp, cũng như hệ thống các kỹ năng quản trị và hành vi mà minh họa và củng cố những nguyên tắc cơ bản. Chất keo kết nối các thành viên trong tổ chức lại với Lau, Tse và Zhou [62] 2002 nhau và diễn tả các giá trị, lý tưởng xã hội và niềm tin được chia sẻ.
10 Tác giả Năm Định nghĩa Là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào Nguyễn Hoàng Ánh [4] 2004 trong hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh” Là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt Dương Thị Liễu [7] 2008 của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Các định nghĩa tác nghiệp về văn hóa tổ chức nhấn mạnh 3 điểm đáng chú ý sau: + Về nội dung: văn hóa tổ chức là một hệ thống các giá trị và triết lý được tổ chức, doanh nghiệp lựa chọn để tạo hình ảnh của mình, và cách thức ra quyết định và hành động điển hình để tạo phong cách đặc trưng. + Về mục đích: các nội dung trên được xây dựng và triển khai nhằm giúp các thành viên tổ chức nhận thức một cách thống nhất, và giúp hình thành năng lực hành động nhất quán cho mọi thành viên; + Về ý nghĩa: việc triển khai văn hóa tổ chức của tổ chức về mặt quản lý là nhằm hỗ trợ cho các quá trình chuyển hoá nhận thức thành động cơ, và chuyển hoá năng lực thành hành động cụ thể. Hành động tự nguyện, nhất quán của nhiều thành viên tổ chức sẽ giúp định hình phong cách của tổ chức.