CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về văn hóa (VH): 1. Khái niệm văn hóa: Trước hết, văn hoá là những điều tốt đẹp nhất của dân tộc, là động lực duy trì truyền thống văn hoá qua nhiều thế hệ và là suy nghĩ phổ biến của mọi dân tộc trên thế giới. Văn hoá được hiểu theo rất nhiều cách khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá.
Nếu xét về ngôn ngữ: - Phương Tây: văn hoá xuất phát từ tiếng La tinh: cultus có nghĩa là trồng trọt, vun xới cây cối, thảo mộc làm cho nó xanh tươi và tươi tốt. - Phương đông: văn hóa là lễ nghĩa , tốt đẹp và văn hoá là truyền đạt , giáo hoá, đưa nó ra. Nếu xét theo phạm vi: - Văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá tinh hoa. Văn hoá tinh hoa là một tiểu văn hoá chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu bậc cao của con người.
Quy luật chung là những giá trị đáp ứng các nhu cầu càng xa những đòi hỏi vật chất, đời thường, nhất thời bao nhiêu thì tính giá trị, tính người càng cao bấy nhiêu, và do vậy càng mang tính tinh hoa về văn hoá. Theo nghĩa này, văn hoá thường được đồng nhất với các loại hình nghệ thuật, văn chương.Văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá ứng xử. - Văn hoá được theo nghĩa rộng là văn hoá trong khoa học nghiên cứu về văn hoá. Theo nghĩa này, định nghĩa văn hoá cũng có rất nhiều.
Chẳng hạn, định nghĩa đầu tiên của E.Tylor năm 1871 xem văn hóa là “một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”. Tại hội nghị Quốc tế các nhà văn học họp tại Mehico do UNESCO tổ chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa, bản tuyên bố chung của hội nghị đã chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, VH là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc 7 cảm quyết định tính cách cũ một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. VH bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống có giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Như vậy, dưới góc độ xã hội học thì VH là một hiện tượng XH gắn với đời sống con người, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn có tính sáng tạo của con người, được chắt lọc kế thừa, phát triển dưới tác động của con người, vì hạnh phúc con người.
Tóm lại theo những ý nghĩa đó, có thể hiểu văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Ở cấp độ trường đại học, văn hóa có thể được định nghĩa là những giá trị và niềm tin của những người liên quan đến nhà trường: các nhà quản lý, giảng viên, thành viên hội đồng, nhân viên phục vụ, dựa trên truyền thống và những giao tiếp bằng lời hoặc không lời. Gía trị và niềm tin được coi là có ảnh hưởng lớn lao đối với quá trình ra quyết định ở các trường đại học và định hình cách xử sự của các cá nhân cũng như trong tổ chức. Cách xử sự dựa trên những giả định ngầm ẩn và niềm tin thì được thể hiện qua những câu chuyện kể, những thứ ngôn ngữ đặc biệt và những chuẩn mực của nhà trường.
Các mức độ của văn hoá: Xét về mức độ văn hoá tồn tại hai hình thức đó là - Văn hoá quốc gia - Văn hoá tổ chức Văn hoá quốc gia: văn hoá dân tộc là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với một dân tộc khác. Từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất, đến những phong tục tập quán tín ngưỡng, lối sống và lao động Các loại hình văn hoá quốc gia - Văn hoá phương Đông - Văn hoá phương Tây Đặc trưng của văn hoá phương tây: 8 - Duy lý: lý tính, rõ ràng, pháp trị. Phản ứng thiên về đúng sai phải trái - Năng động: khám phá bộc lộ, tấn công, chính thức - Thế giới là gì trên cơ sở lấy cá nhân làm tâm, dám chịu trách nhiệm cá nhân. - Khoa học chính xác, đề cao tư tưởng.
- Cứng: loại trừ lựa chọn tìm cái hợp lý. Đặc trưng của văn hoá phương đông: - Duy cảm: cảm tính, mơ hồ, đức trị. Phản ứng thiên về nên hay không nên, hay - dở - Trầm tỉnh: an bài , dấu mình, phòng thủ, phi chinh thức. - Ta là ai trên cơ sở lấy cộng đồng làm tâm, trách nhiệm không rõ ràng, dể cơ hội, lẫn lách - Trọng văn: mô tả tâm trạng, hướng nội.
- Mềm: tuỳ cơ, trung dung, bảo tồn. Văn hoá tổ chức Văn hoá tổ chức là nói đến hình thức tín ngưỡng, giá trị và thói quen được phát triển trong suốt quá trình lịch sử của tổ chức. Những điều này đươc thể hiện trong cách điều hành và hành vi ứng xử của các thành viên trong tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp chỉ là một dạng của văn hoá tổ chức.
Khái niệm: Có lẽ vì bản chất trừu tượng nên đã có nhiều khái niệm về văn hóa tổ chức được đưa ra. Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952). Văn hóa tổ chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định (Adrew Pettgrew, 1979) Văn hóa tổ chức là một loạt các quy phạm và hệ thống giá trị chung nhằm kiểm soát sự tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các thành viên 9 trong tổ chức với những người bên ngoài tổ chức đó. Văn hóa tổ chức là hệ thống những niềm tin và giá trị chung được xây dựng trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của các thành viên trong tổ chức.
Văn hóa tổ chức là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác (Robbin, 2000). Tóm lại, có thể hiểu VHTC là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức: là chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức đó tạo ra, cống hiến cho xã hội, nó mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian. Các hình thái, cấp độ thể hiện văn hóa tổ chức: Nghiên cứu về văn hóa tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới và nước ta hiện nay thường theo mô hình và cấu trúc hệ thống văn hóa của Edgar H Shein trong cuốn sách “ Văn hóa tổ chức và sự lãnh đạo” của ông. Schein, cấu trúc văn hóa tổ chức có thể chia thành ba tầng khác nhau: 10 Các cấu trúc hữu hình của tổ chức (Artifacts) Tầng thứ nhất (dễ quan sát nhất) Các giá trị được tuyên bố (Epoused Value) (khó Tầng thứ hai quan sát hơn) Các ngầm định nền tảng (Basic Underlying Tầng thứ ba Asumptions) (phải suy luận) Sơ đồ1.
Cấu trúc văn hóa tổ chức theo mô hình của Edgar H.Schein Các vật thể hữu hình: cách thức bố trí và trang trí nơi làm việc, các biểu tượng vật chất, trang phục của nhân viên, điều kiện và môi trường làm việc. Các giá trị được tuyên bố: được thể hiện qua phong cách giao tiếp, ứng xử của người lao động trong tổ chức, qua các triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo… Các giả định: đó là các giá trị ngầm định. Khi các giá trị được tuyên bố được kiểm nghiệm qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, được người lao động chấp nhận thì sẽ được duy trì theo thời gian và dần dần trở thành các giá trị ngầm định. Các giá trị ngầm định này thường khó thay đổi và ảnh hưởng rất lớn tới phong cách làm việc, hành vi của nhân viên trong tổ chức 1.
Văn hóa tổ chức cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) : 1. Khái niệm : 11 Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức sự nghiệp, và một trường thuộc hệ cao đẳng hoặc đại học thì được gọi là một tổ chức giáo dục hoặc cơ sở giáo dục đại học – theo Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học hiện hành. Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh, điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc nhiều thế hệ tạo lập.Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều một nền văn hóa nhất định. Và theo TS Phạm Quang Huân, Viện nghiên cứu ĐHSP Hà Nội, ta có thể hiểu văn hóa tổ chức của cơ sở giáo dục Đại học hay còn gọi là văn hóa nhà trường ( school culture) là hệ thống niềm tin, giá trị,chuẩn mực, thói quen, truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường: là chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức đó tạo ra, cống hiến cho xã hội, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức giáo dục- đào tạo.
Tầm quan trọng của văn hóa tổ chức cơ sở giáo dục đại học Văn hóa là một thứ tài sản lớn của bất kỳ một tổ chức nào: Có không ít người đã khẳng định: nó quyết định sự trường tồn của một tổ chức. Đó là ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hoá. Nó càng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với nhà trường, bởi lẽ, tính văn hoá là một tính chất đặc thù của nhà trường với sứ mệnh “trồng người”, phát triển nhân cách và năng lực làm việc cho người học.