Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Chƣơng 2: Thực trạng VHDN tại công ty TH True Milk trong bối cảnh hội nhập. Chƣơng 3: Một số giải pháp xây dựng VHDN TH True Milk trong bối cảnh hội nhập. Tài liệu tham khảo Phụ lục 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 1.
Cơ sở lý luận chung về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm chung về văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại, văn hóa có từ thuở bình minh của loài ngƣời nhƣng tới thế kỉ XVII, nhất là nửa cuối thế kỉ XIX trở đi, các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung vào tìm hiểu và nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Bản thân văn hóa là một khái niệm rất rộng, rất phức tạp, do vậy các nhà nghiên cứu có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi lý giải về nội hàm khái niệm này. Theo cách hiểu thông thƣờng, văn hóa là thuật ngữ để chỉ trình độ học vấn (trình độ phổ thông, trình độ đại học…) hoặc chỉ các sinh hoạt cộng đồng, các vấn đề của đời sống tinh thần nhƣ: các di tích lịch sử, công trình văn hóa, lối sống truyền thống, phong tục tập quán.
Hầu hết các tác giả trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đều cho rằng, khái niệm “văn hóa” cần đƣợc hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, văn hóa là tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ là những hoạt động liên quan đến đời sống tinh thần, những quan hệ xã hội và những sáng tạo giá trị nghệ thuật. Theo đó, cấu trúc của khái niệm văn hóa gồm “giá trị văn hóa” - và đây là cốt lõi của văn hóa “bản sắc”, “di sản”, “biểu tƣợng” và “chuẩn mực văn hóa”.Nhiều tác giả khác lại chia giá trị văn hóa theo giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị vật thể, phi vật thể.
Trần Ngọc Thêm đƣa ra một cấu trúc văn hóa phức tạp hơn với bốn loại “giá trị”: con ngƣời, hoạt động, sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần; và ba “phƣơng diện”: tĩnh/động; văn hóa vật chất/văn hóa tinh thần; văn hóa vật thể/văn hóa phi vật thể; bốn “đặc trƣng” cơ bản là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử. [5] Một cách tiếp cận về cấu trúc của văn hóa mới đƣợc Texas University công bố tháng 5-2015, có thể đã phản ánh đƣợc những thành tựu nghiên cứu ở phƣơng Tây hiện đại, không mâu thuẫn với các tiếp cận của các nhà khoa học Việt Nam, lại có ƣu điểm khá dễ hiểu, dễ nghiên cứu. Đó là chia cấu trúc khái niệm văn hóa thành 8 mức độ (các tầng) “sâu”, “nông” và các “cấp độ”. Theo cách tiếp cận này, cấu trúc của văn hóa có các tầng sau: Ở tầng sâu nhất: Các giá trị (values).
Từ trong đó các giá trị, hình thành nên các cốt lõi của một nền văn hóa. Tầng thứ hai: Các nghi thức (rituals). Là các chuẩn mực hoạt động tập thể, đƣợc coi là cần thiết trong xã hội.Từ cách chào hỏi, các dạng giao tiếp, các nghi lễ tôn giáo và xã hội, v. Tầng thứ ba: Các nhân vật - anh hùng (Heroes).
Là những nhân vật quá khứ hay hiện tại, thực hay hƣ cấu, có đặc điểm đƣợc đánh giá cao trong một nền văn hóa. Họ tồn tại nhƣ là mô hình cho hành vi. Tầng thứ tƣ: Các biểu tượng (symbols). Là lời nói, cử chỉ, hình ảnh, hoặc các vật mang một ý nghĩa đặc biệt, đƣợc công nhận bởi những ngƣời chia sẻ một nền văn hóa cụ thể.
Biểu tƣợng mới dễ dàng phát triển, những cái cũ biến mất. Biểu tƣợng từ một nhóm cụ thể thƣờng xuyên đƣợc sao chép bởi ngƣời khác. Đây là lý do tại sao các biểu tƣợng đại diện cho lớp ngoài cùng của một nền văn hóa. Biểu tƣợng, anh hùng và nghi thức là những khía cạnh hữu hình, ghi lại cách, các thực hành của một nền văn hóa.
Tuy vậy, ý nghĩa văn hóa thực sự của thực hành này lại là phi vật thể.Biểu tƣợng đại diện cho bề ngoài nhất và giá trị các biểu hiện ở tầng sâu sắc nhất của văn hóa, các anh hùng và các nghi lễ ở tầng giữa. Cấu trúc văn hóa theo “cấp độ” (có thể coi là quy mô) nhƣ: cấp quốc gia, cấp độ vùng, cấp độ giới, cấp độ thế hệ, cấp độ tầng lớp xã hội, cấp độ công ty. Nhiều tác giả cũng đã đề cập đến tiếp cận lịch sử văn hóa, từ lịch đại đến đồng đại. Khi nói về nội hàm văn hóa, các nhà nghiên cứu không bao giờ bỏ qua yếu tố con ngƣời.
Tuy nhiên trong các nghiên cứu các “ngành” văn hóa cụ thể, nhƣ “văn hóa chính trị”, “văn hóa ứng xử”, “văn hóa học đƣờng”. con ngƣời đƣợc nghiên cứu nhƣ là một chủ thể văn hóa hoặc tách ra thành một đối tƣợng riêng, nhƣ “con ngƣời chính trị” chẳng hạn. Định nghĩa văn hóa đầu tiên đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của E. Tylor - một nhà xã hội học ngƣời Mỹ đƣa ra: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen mà con ngƣời đạt đƣợc với tƣ cách là thành viên của một xã hội” (Tylor, 1871) 9 Một định nghĩa khác cho thấy tầm quan trọng của văn hóa, tính bao trùm của văn hóa nhƣng lại trừu tƣợng và thiếu tính cụ thể đó là định nghĩa của E.Heriot: “Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên lãng đi - đó là văn hóa” Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu và nhiều quốc gia trên thế giới đồng ý với định nghĩa về văn hóa do Frederico Mayor, tổng giám đốc của UNESCO đƣa ra tại Lễ phát động Thập kỉ thế giới 1992, Paris, đó là: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.
Định nghĩa này mang đầy đủ khía cạnh của quan niệm văn hóa thời hiện đại, đề cập tới cả mặt vật chất và tinh thần của khái niệm văn hóa. Tựu chung lại, các định nghĩa nêu trên đều thừa nhận văn hóa đƣợc đúc kết và lan truyền từ đời này qua đời khác; văn hóa không những đƣợc truyền bá trong gia đình mà còn đƣợc truyền bá trong các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, từ quốc gia này qua quốc gia khác. Văn hóa có nhiều khía cạnh khác nhau nhƣng lại liên quan chặt chẽ tới nhau. Trong khuôn khổ của luận văn, tôi sẽ sử dụng định nghĩa của Frederico Mayor: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”.
Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp – một khái niệm chƣa có định nghĩa rõ ràng, không hề có trong từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam.Đây là một lĩnh vực mới đang đƣợc nghiên cứu trong vài thập kỉ gần đây, do đó, các định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp còn khác nhau.Gần đây, cụm từ “Văn hóa doanh nghiệp” đƣợc sử dụng khá phổ biến trong giới doanh nhân.Thời gian gần đây, các doanh nghiệp ngày càng chú trọng đến việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.Tuy nhiên, khái niệm về văn hoa doanh nghiệp vẫn chƣa rõ ràng, vì vậy, có rất nhiều khái niệm về vấn đề này. Georged de Saite Marie, chuyên gia ngƣời Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “ Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tƣợng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp .” [6] 10 Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (International Labor Organization- ILO): “ Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết .” [11] Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và đƣợc chấp nhận nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edge Schien: “ Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học đƣợc trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trƣờng xung quanh ”. [8] Các khái niệm trên đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hóa doanh nghiệp nhƣ các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức… của doanh nghiệp nhƣng chƣa đề cập đến nhân tố vật chất – nhân tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp. Do đó, kế thừa các nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu logic về văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Văn hóa doanh nghiệp đƣợc hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá đƣợc gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích ”.
Định nghĩa trên nêu bật đƣợc ba đặc trƣng quan trọng của văn hóa doanh nghiệp sau: Thứ nhất, đó là các giá trị văn hóa đƣợc gây dựng trong quá trình hình thành và tồn tại của doanh nghiệp, nhƣ vậy văn hóa là sản phẩm của những ngƣời cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững; Thứ hai để là giá trị văn hóa nó phải trở thành những quan niệm, tập quán trong một thời gian đủ dài, những giá trị không đƣợc chấp nhận bởi doanh nghiệp sẽ bị loại trừ; và thứ ba những giá trị đó phải có khả năng chi phối đến nhận thức, hành vi của doanh nghiệp, nó giống nhƣ kim chỉ nam, ý thức hệ hƣớng dẫn, bao trùm lên suy nghĩ, hành vi ứng xử của thành viên doanh nghiệp trong việc ứng phó với những vấn đề tồn tại và phát triển của mình.