Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) với đề tài "Văn hóa công vụ của lực lượng Công an nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phùng Anh Tuấn (khóa 20), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thu Vân tại Học viện Hành chính và Quản trị công thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2026.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận giải dựa trên 4 căn cứ chủ yếu:

  1. Tầm quan trọng của văn hóa công vụ trong nền hành chính nhà nước: Văn hóa công vụ (VHCV) là nền tảng tinh thần, động lực định hướng hoạt động công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ nhân dân; được thể chế hóa qua các văn kiện Đại hội XIII (2021), Đại hội XIV (2026) của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa và Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án VHCV.
  2. Vị trí, vai trò của văn hóa công vụ đối với lực lượng Công an nhân dân (CAND): Với lịch sử hơn 80 năm xây dựng và phát triển, nền công vụ CAND hướng tới tính liêm chính, khoa học, nhân văn, vì nhân dân phục vụ. VHCV chi phối phẩm chất đạo đức, điều lệnh, kỷ luật, tác phong của cán bộ chiến sĩ (CBCS), góp phần xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
  3. Yêu cầu nghiên cứu lý luận về văn hóa công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số: Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng kỹ thuật mà làm thay đổi phương thức lãnh đạo, quy trình công tác và môi trường thực thi công vụ. Bối cảnh không gian số đặt ra các vấn đề mới về chuẩn mực hành vi, đạo đức số, trách nhiệm dữ liệu, bảo mật thông tin và ứng xử trực tuyến.
  4. Thực tiễn thực hiện văn hóa công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số: Lực lượng CAND được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một bộ phận CBCS vi phạm kỷ luật, năng lực chuyên môn chưa cao, gây phiền hà cho nhân dân; kỹ năng số và văn hóa ứng xử trên không gian mạng của một số CBCS chưa theo kịp yêu cầu.

Khoảng trống nghiên cứu: Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận nghiên cứu một cách tổng thể, có hệ thống về VHCV của lực lượng CAND dưới góc độ khoa học quản lý công gắn với bối cảnh chuyển đổi số.

Mục đích nghiên cứu: Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn VHCV của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện VHCV của lực lượng CAND đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan, xác định nội dung kế thừa và định hướng nghiên cứu tiếp theo.
  • Phân tích cơ sở lý luận, làm rõ nội hàm, cấu trúc VHCV của CAND và các tác động của chuyển đổi số.
  • Khảo sát, phân tích thực trạng xây dựng và thực hiện VHCV trong CAND, đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
  • Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện VHCV của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án:

  • Câu hỏi 1: Văn hoá công vụ của lực lượng CAND bao gồm những nội dung, đặc điểm nào? Văn hoá công vụ có vai trò như thế nào đối với hoạt động thực thi công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số?
  • Câu hỏi 2: Bối cảnh chuyển đổi số hiện nay tác động như thế nào tới VHCV của lực lượng CAND?
  • Câu hỏi 3: Thực trạng văn hoá công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay như thế nào? Những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, bất cập đó là gì?
  • Câu hỏi 4: Cần quán triệt những quan điểm, định hướng nào và triển khai những giải pháp gì nhằm hoàn thiện văn hoá công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay?

Hệ thống giả thuyết khoa học của luận án:

  • Giả thuyết 1: Khái niệm và nội dung VHCV của CAND được xây dựng dựa trên khoa học quản lý công, Đề án VHCV của Chính phủ và đặc thù lực lượng vũ trang, cấu thành từ hai góc độ: góc độ thực hiện của CBCS (8 nội dung) và góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý (3 nội dung).
  • Giả thuyết 2: Bối cảnh chuyển đổi số tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực), vừa là môi trường vừa là điều kiện để VHCV của lực lượng CAND phát triển, hoàn thiện.
  • Giả thuyết 3: VHCV của CAND có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp; tuy nhiên còn tồn tại hạn chế về thể chế, nêu gương, chuẩn mực trên môi trường số và kiểm tra giám sát do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan.
  • Giả thuyết 4: Việc hoàn thiện VHCV của CAND cần được triển khai đồng bộ qua hoàn thiện thể chế, nâng cao chức trách người đứng đầu, đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền.

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Các khía cạnh lý luận, pháp lý và thực tiễn thực thi VHCV của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số; các giải pháp hoàn thiện.
  • Về không gian: Khảo sát tại các đơn vị cấp Cục trực thuộc Bộ Công an (Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục Công tác chính trị, Cục Đào tạo, Cục Tổ chức cán bộ, Văn phòng Bộ Công an, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân) và Công an 6 địa phương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Nghệ An; đồng thời khảo sát công dân tại các địa bàn này.
  • Về thời gian: Phân tích số liệu và khảo sát thực trạng từ năm 2021 (thời điểm ban hành Quyết định số 2612/QĐ-BCA ngày 20/4/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong CAND đến năm 2025, định hướng đến năm 2030) đến tháng 8/2025; cập nhật văn bản của Đảng và Nhà nước đến tháng 4/2026.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng chính:

Hướng nghiên cứu về văn hóa công vụ, văn hóa tổ chức và văn hóa công vụ môi trường số

  • Về lý luận và khái niệm văn hóa tổ chức, văn hóa công vụ: Alan S. Gutterman với bài viết Founders and Organizational Culture (SSRN) làm rõ văn hóa tổ chức là mô hình giả định cơ bản để thích ứng bên ngoài và tích hợp nội bộ; Tarek Mabrouk và Daoud Abdellatef Jerab (2023) trong bài viết The Role of Leadership in Changing Organizational Culture phân tích vai trò kiến trúc sư văn hóa của người lãnh đạo; Huỳnh Văn Thới (2016) với sách chuyên khảo VHCV ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn định nghĩa VHCV là hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức và ảnh hưởng chất lượng công vụ; Ngô Thành Can (2015) trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước phân chia VHCV thành 3 lớp (lớp ngoài hữu hình, lớp giữa chuẩn mực, lớp trong giá trị cốt lõi); Trần Thị Hương Huế (2025) tại Diễn đàn quản trị công quốc tế đề xuất giải pháp xây dựng giá trị đổi mới sáng tạo trong VHCV; Nguyễn Hữu Hải phân tích ba yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức công (yếu tố hữu hình, giá trị tuyên bố, quan niệm chung); Bùi Thu Trang nghiên cứu văn hóa công sở các cơ quan hành chính Hà Nội; Đào Thị Ái Thi (2010) nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của công chức; Trịnh Thanh Hà (2009) xây dựng tiêu chí văn hóa ứng xử công vụ; Trịnh Huyền Mai khảo sát VHCV tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các bộ.
  • Về vai trò của văn hóa công vụ: Theo Richardson và Baldwin trong tác phẩm Public Administration: Government in Action xác định VHCV là sự kết hợp của niềm tin, thái độ, giá trị ảnh hưởng đến hoạt động chính phủ; Natalia Volkova và V. Chiker (2019) nghiên cứu đặc điểm nhân thân tác động đến nhận thức văn hóa tổ chức tại Nga; Trương Cộng Hòa (2023) trên Tạp chí Quản lý nhà nước khẳng định VHCV là bộ phận của văn hóa nảy sinh từ hoạt động công vụ mang tính quyền lực - pháp lý; Nguyễn Thị Mai Anh (2019) trên Tạp chí Cộng sản khẳng định văn hóa là nền tảng xây dựng đạo đức công vụ; Nguyễn Hữu Khiển phân tích mối quan hệ giữa văn hóa hành chính và thể diện quốc gia; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế do Bộ Nội vụ tổ chức ngày 11/10/2024 làm rõ vai trò VHCV và kỹ năng số trong nền công vụ các nước ASEAN+3.
  • Về thực trạng, hoàn thiện thể chế văn hóa công vụ: Nguyễn Thị Thu Vân, Lương Thanh Cường và Đặng Xuân Hoan (2020) đồng chủ biên sách Tài liệu bồi dưỡng VHCV; Trần Hoàng và Trần Việt Hoa nghiên cứu kỹ năng văn hóa công sở, lễ tân nhà nước; Trần Thị Diệu Oanh (2020) chỉ ra tính phân tán của quy định pháp lý và đề xuất hai nhóm giải pháp thể chế, tổ chức thực hiện; Thùy Linh và Việt Trinh (2013) nghiên cứu văn hóa ứng xử công sở; Nguyễn Thị Thanh Thủy (2019) tổng kết kinh nghiệm xây dựng VHCV của các nước; Lê Thị Nam An (2022) nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của cán bộ, công chức.
  • Về văn hóa công vụ trong môi trường số: Nguyễn Hoàng Anh nghiên cứu văn hóa công vụ trong môi trường số gắn với chương trình chuyển đổi số quốc gia; Phạm Thị Giang chỉ ra thực trạng và hạn chế trong nhận thức về chính phủ số; Chu Thị Khánh Ly đề xuất tiêu chí văn hóa số cho cán bộ, công chức ngành Nội vụ.

Hướng nghiên cứu về văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử, đạo đức trong lực lượng Công an nhân dân

  • Nghiên cứu quốc tế về lực lượng cảnh sát: Cathrine Filstad và Petter Gottschalk (2010) trên tạp chí International Journal of Human Resources Development and Management phân tích tính chất tập thể trong văn hóa cảnh sát Na Uy; Jason R. Ingram, William Terrill, Eugene A. Paoline III (2018) trên tạp chí Criminology áp dụng khung lý thuyết đa cấp nghiên cứu văn hóa cảnh sát và hành vi công vụ tại Texas, Hoa Kỳ.
  • Nghiên cứu trong nước về CAND: Tô Lâm (2023) với sách chuyên khảo Xây dựng văn hóa ứng xử cho CBCS CAND theo Tư tưởng Hồ Chí Minh phân tích 6 mối quan hệ ứng xử (với tự mình, với đồng sự, với Đảng và Chính phủ, với nhân dân, với đối tượng sai phạm/địch, với công việc); Lê Đức Hùng nghiên cứu văn hóa giao tiếp của lực lượng CAND; Trần Vi Dân (2019) đề xuất bồi dưỡng giáo dục cách mạng nâng cao văn hóa ứng xử cho CBCS; Nguyễn Tuyết Lan (2019, 2021) phân tích văn hóa giao tiếp trong nhà trường CAND và văn hóa chính trị CAND; Nguyễn Hải Lâm (2020) nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Cảnh sát nhân dân; Vũ Văn Điệp nghiên cứu nâng cao đạo đức công vụ cho CBCS CAND; Tô Lâm (2021, 2022, 2023) với các bài viết và phát biểu về xây dựng lực lượng CAND theo Nghị quyết số 12-NQ/TW và Đề cương về Văn hóa Việt Nam; Trần Quốc Tỏ (2021) phân tích văn hóa là nền tảng thúc đẩy xây dựng lực lượng CAND; Trần Quang Tám (2016) nghiên cứu đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong CAND; Lê Văn Tuyến (2022) phân tích vai trò công tác hậu cần - kỹ thuật.

Hướng nghiên cứu về chuyển đổi số trong lực lượng Công an nhân dân

  • Bài phát biểu của Tô Lâm (2022) tại Hội nghị Chuyển đổi số trong CAND lần thứ nhất nhấn mạnh vai trò gương mẫu đi đầu của Bộ Công an trong thực hiện Đề án 06 và Chương trình Chuyển đổi số trong CAND; Hội thảo khoa học do Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp tổ chức ngày 13/4/2026 tại Đà Nẵng về chuyển đổi số trong phổ biến giáo dục pháp luật; bài phát biểu chỉ đạo của Phạm Minh Chính tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về chuyển đổi số CAND đánh giá tiến độ cơ sở dữ liệu dân cư và chỉ ra vướng mắc trong chia sẻ dữ liệu; Nghiêm Xuân Dũng (2023) nghiên cứu chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đại học CAND; Phương Liên (2023) phân tích chuyển đổi số CAND nâng cao hiệu quả quản trị xã hội; Trần Minh Hưởng (2020) nghiên cứu định hướng tư tưởng cho CBCS CAND dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0.

Khoảng trống luận án giải quyết: Các công trình trên chủ yếu tiếp cận riêng rẽ về văn hóa ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, công tác xây dựng lực lượng hoặc kỹ thuật chuyển đổi số nghiệp vụ. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện VHCV của lực lượng CAND theo khung phân tích khoa học quản lý công, đặt trong mối quan hệ biện chứng với bối cảnh chuyển đổi số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa con người, đạo đức công vụ và xây dựng lực lượng CAND; hệ thống quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị của Bộ Công an.

Dưới góc độ khoa học quản lý công, tác giả tiếp cận VHCV của CAND như một chỉnh thể thống nhất gồm các giá trị, chuẩn mực và hành vi gắn với quyền lực công và đặc thù lực lượng vũ trang, được xem xét xuyên suốt dưới tác động của chuyển đổi số. Khung phân tích nội dung VHCV của CAND gồm 2 góc độ:

  1. Góc độ thực hiện của cán bộ chiến sĩ (8 nội dung): Bản lĩnh chính trị, lý tưởng, niềm tin; chuẩn mực đạo đức, lối sống; tri thức công vụ; tinh thần, thái độ làm việc và đổi mới sáng tạo; chuẩn mực giao tiếp ứng xử; tác phong, phong cách làm việc; kỹ năng số; chuẩn mực trang phục.
  2. Góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý (3 nội dung): Xây dựng thể chế văn hóa công vụ; xây dựng môi trường công vụ; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện văn hóa công vụ của cán bộ chiến sĩ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp: Tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết quản lý công, văn bản pháp quy, nghị quyết của Đảng, báo cáo nghiệp vụ và tài liệu thống kê ngành.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát xã hội học):
    • Khảo sát thử nghiệm: 20 phiếu tại đơn vị tham mưu thuộc Bộ Công an vào tháng 11/2024 để hoàn thiện công cụ.
    • Khảo sát chính thức: Tiến hành từ tháng 1/2025 đến tháng 8/2025 với 500 phiếu CBCS và 200 phiếu Công dân, tổng cộng thu về 700 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%).
    • Hình thức thu thập: Trực tiếp và trực tuyến qua Google Forms.
    • Kỹ thuật xử lý số liệu: Đánh giá bằng thang đo 5 bậc Likert (từ 1 đến 5), sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS phiên bản 22.0 để tính điểm trung bình và phân tích dữ liệu.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 20 chuyên gia (cán bộ quản lý, lãnh đạo Phòng Chính trị, Cục Công tác chính trị, trường CAND) và 20 Công dân tại các địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập luận cứ định tính.

Bảng phân bổ mẫu khảo sát thực nghiệm đối với CBCS

STT Đơn vị khảo sát Số phiếu
1 Cục Đào tạo - Bộ Công an 40
2 Văn phòng Bộ Công an 40
3 Cục Tổ chức cán bộ - Bộ Công an 50
4 Cục Công tác Chính trị 50
5 Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội 50
6 Học viện An ninh nhân dân 40
7 Học viện Cảnh sát nhân dân 40
8 Thành phố Hà Nội 40
9 Thành phố Hồ Chí Minh 30
10 Thành phố Cần Thơ 30
11 Thành phố Đà Nẵng 30
12 Thành phố Huế 30
13 Tỉnh Nghệ An 30
Tổng Toàn bộ mẫu CBCS 500

Mẫu khảo sát 200 công dân được phân bổ tại 6 địa phương trên. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản của Đảng, Nhà nước, Quyết định số 2612/QĐ-BCA của Bộ Công an và các báo cáo tổng kết giai đoạn 2021–2025.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm vấn đề: lý luận chung về VHCV, văn hóa công sở và môi trường số; văn hóa ứng xử, đạo đức công vụ và công tác xây dựng lực lượng CAND; chuyển đổi số trong ngành Công an. Tác giả đánh giá tổng quan, chỉ ra những điểm kế thừa về khái niệm, vai trò, tiêu chí và nhận diện khoảng trống nghiên cứu: chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể VHCV của lực lượng CAND tiếp cận theo khoa học quản lý công trong bối cảnh chuyển đổi số. Từ đó, chương xác định các định hướng lý luận và thực tiễn mà đề tài tiếp tục giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận về văn hóa công vụ của lực lượng Công an nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: văn hóa (theo Hồ Chí Minh, Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm), công vụ, VHCV và đưa ra định nghĩa VHCV của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số. Tác giả xác định đặc điểm và vai trò của VHCV CAND đối với việc xây dựng lực lượng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Chương 2 xây dựng khung nội dung VHCV CAND theo khoa học quản lý công gồm 2 góc độ:

  • Góc độ thực hiện của CBCS: gồm 8 nội dung (bản lĩnh chính trị, lý tưởng, niềm tin; chuẩn mực đạo đức, lối sống; tri thức công vụ; tinh thần, thái độ làm việc và đổi mới sáng tạo; chuẩn mực giao tiếp ứng xử; tác phong, phong cách làm việc; kỹ năng số; chuẩn mực trang phục).
  • Góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý: gồm 3 nội dung (xây dựng thể chế văn hóa công vụ; xây dựng môi trường công vụ; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện). Chương này cũng phân tích đặc điểm chuyển đổi số ngành Công an, tác động hai chiều của môi trường số và các yêu cầu mới đối với VHCV CAND.

Chương 3: Thực trạng văn hóa công vụ của lực lượng Công an nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số

Chương 3 trình bày khái quát về lực lượng CAND và phân tích thực trạng VHCV dựa trên kết quả xử lý 700 phiếu khảo sát (SPSS 22.0, thang đo Likert 5 bậc) và phỏng vấn sâu 40 cá nhân (20 chuyên gia, 20 công dân). Đánh giá được triển khai theo hai trục:

  • Góc độ thực hiện của CBCS qua 8 tiêu chí: khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức chấp hành điều lệnh nghiêm túc; tuy nhiên kỹ năng số còn phân hóa, phong cách làm việc trên môi trường điện tử còn hạn chế ở một bộ phận cơ sở, còn trường hợp vi phạm kỷ luật.
  • Góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý: hoàn thiện thể chế bước đầu gắn với cải cách hành chính; trang bị phương tiện kỹ thuật số được tăng cường; công tác kiểm tra, đánh giá được duy trì thường xuyên. Chương 3 chỉ ra ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân khách quan (môi trường số biến đổi nhanh, tội phạm công nghệ cao phức tạp) và nguyên nhân chủ quan (thể chế chưa hoàn chỉnh, nhận thức và tinh thần nêu gương ở một số nơi chưa đồng đều, hạ tầng dữ liệu còn vướng mắc kết nối).

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện văn hóa công vụ của lực lượng Công an nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số

Chương 4 xác định 5 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện VHCV CAND:

  1. Đặt trong tổng thể quan điểm của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.
  2. Định hướng nâng cao chuẩn mực đạo đức, tinh thần trách nhiệm và cải thiện chất lượng đội ngũ CBCS.
  3. Nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính trong CAND.
  4. Dựa trên quan điểm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
  5. Là nội dung quan trọng của Đề án chuyển đổi số toàn diện trong CAND đến năm 2030.

Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:

  • Hoàn thiện thể chế văn hóa công vụ của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số.
  • Nâng cao chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu và tinh thần trách nhiệm của CBCS thực thi văn hóa công vụ.
  • Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục phổ biến quy định văn hóa công vụ.
  • Thực hiện hiệu quả quy định về khung năng lực số trong CAND.
  • Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện văn hóa công vụ tại các đơn vị, địa phương.
  • Tăng cường sự giám sát, phản biện xã hội của quần chúng nhân dân và các đối tượng bị tác động.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận

  • Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận về VHCV của lực lượng CAND trong bối cảnh chuyển đổi số dưới góc độ khoa học quản lý công, giải quyết khoảng trống lý luận chưa được nghiên cứu tổng thể trước đây.
  • Xác định nội hàm, đặc trưng riêng biệt và vai trò của VHCV CAND trong điều kiện lực lượng vũ trang nhân dân đảm nhận các nhiệm vụ xây dựng dữ liệu số quốc gia.
  • Xác lập khung phân tích nội dung VHCV CAND theo 2 góc độ tương hỗ: góc độ thực hiện của CBCS (8 thành tố) và góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý (3 thành tố).
  • Luận giải sự biến đổi của các chuẩn mực văn hóa công vụ dưới tác động của môi trường số, phương thức quản trị số, trách nhiệm giải trình và kỷ luật công vụ số.

Đóng góp về thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng triển khai quy định VHCV trong CAND bằng dữ liệu khảo sát thực nghiệm quy mô 700 mẫu (500 CBCS và 200 công dân) tại các đơn vị thuộc Bộ và 6 tỉnh, thành phố đại diện, kết hợp phỏng vấn sâu 40 đối tượng.
  • Chỉ rõ những vấn đề hạn chế trong thể chế, tác phong làm việc số, ứng xử trên không gian mạng và phân tích nguyên nhân cốt lõi.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp lý, năng lực người đứng đầu, triển khai khung năng lực số đến kiểm tra, giám sát xã hội nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài: Số liệu điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu được thu thập đến tháng 8/2025; địa bàn khảo sát tập trung tại các Cục tham mưu nghiệp vụ thuộc Bộ và 6 tỉnh, thành phố đại diện (Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế, Nghệ An), chưa bao quát toàn bộ các đơn vị công an địa phương khác hoặc các lực lượng chuyên trách đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật và nghị quyết mới ban hành năm 2026; mở rộng khảo sát thực nghiệm tại công an các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới; nghiên cứu sâu tác động của các công nghệ số mới đối với quy tắc đạo đức số và an toàn dữ liệu của CBCS.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công và Xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước.
  • Các cơ sở giáo dục, đào tạo khối ngành CAND (Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Cục Đào tạo) trong việc giảng dạy học phần văn hóa công vụ, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng công tác số.
  • Cơ quan tham mưu, quản lý của Bộ Công an (Cục Công tác chính trị, Cục Tổ chức cán bộ, Văn phòng Bộ) trong việc rà soát, xây dựng thể chế quản lý nội bộ, hoàn thiện khung năng lực số và quy tắc ứng xử trên không gian mạng cho CBCS.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung nội dung văn hóa công vụ của lực lượng CAND theo tiếp cận của luận án gồm những góc độ nào?
Luận án tiếp cận theo khoa học quản lý công gồm 2 góc độ: (1) Góc độ thực hiện của CBCS với 8 nội dung (bản lĩnh chính trị, lý tưởng, niềm tin; đạo đức, lối sống; tri thức công vụ; tinh thần làm việc, đổi mới sáng tạo; giao tiếp ứng xử; tác phong làm việc; kỹ năng số; trang phục); (2) Góc độ trách nhiệm của chủ thể quản lý với 3 nội dung (xây dựng thể chế; xây dựng môi trường công vụ; kiểm tra, đánh giá).

2. Mẫu khảo sát và công cụ xử lý số liệu thực trạng của luận án được thực hiện như thế nào?
Tác giả khảo sát thử nghiệm 20 phiếu (tháng 11/2024), khảo sát chính thức 700 phiếu hợp lệ (500 CBCS tại 7 đơn vị thuộc Bộ và 6 công an địa phương; 200 công dân) từ tháng 1/2025 đến tháng 8/2025. Số liệu được đánh giá theo thang đo 5 bậc Likert và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS phiên bản 22.0.

3. Bối cảnh chuyển đổi số tác động như thế nào đến văn hóa công vụ của lực lượng CAND?
Chuyển đổi số tác động hai chiều: tạo điều kiện nâng cao tính công khai, minh bạch, hiện đại hóa lề lối làm việc và phương thức phục vụ nhân dân; đồng thời làm xuất hiện không gian thực thi công vụ trên môi trường số, đòi hỏi các chuẩn mực mới về đạo đức số, trách nhiệm dữ liệu, bảo mật thông tin và văn hóa ứng xử trực tuyến của CBCS.

4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để hoàn thiện văn hóa công vụ của lực lượng CAND?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và CBCS; đa dạng hóa tuyên truyền giáo dục; thực hiện khung năng lực số; tăng cường thanh tra kiểm tra; và tăng cường giám sát, phản biện xã hội của nhân dân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Văn hóa công vụ của lực lượng Công an nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số" của tác giả Phùng Anh Tuấn đã xây dựng khung lý luận về văn hóa công vụ CAND theo khoa học quản lý công gồm hai góc độ thực thi của cá nhân và quản lý của tổ chức. Dựa trên số liệu khảo sát thực nghiệm 700 phiếu và phỏng vấn sâu 40 chuyên gia, công dân, luận án phản ánh toàn diện thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những bất cập trong môi trường số. Hệ thống 6 giải pháp được đề xuất là cơ sở khoa học và thực tiễn để Bộ Công an hoàn thiện thể chế, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.