Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC MÔN BỐ CỤC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Siêu thực và Yếu tố siêu thực trong tranh 1. Siêu thực Theo họa sĩ Nguyễn Đình Đăng: Trong “Hiến chương siêu thực” năm 1924, André Breton viết siêu thực là “cách quy hai trạng thái, mơ mộng và thực tại, dường như rất trái ngược nhau, thành một thực tại tuyệt đối, một siêu thực tại (surreality)” [20].
Như vậy, siêu thực là sự kết hợp thế giới thực tại thông thường và thế giới thực tại của giấc mơ. Breton định nghĩa siêu thực như sau: “Siêu thực (danh từ) là trạng thái tâm lý thuần túy không ý thức (automatism), mà ta có thể trải nghiệm để thể hiện (bằng lời được viết thành chữ hoặc bất cứ cách gì khác) hoạt động thực tế của tư duy (thought). Siêu thực được tư duy sai khiến, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của lý trí, được miễn trừ khỏi mọi quan ngại liên quan tới thẩm mỹ và đạo đức [21]. Vể mặt triết học, siêu thực dựa trên niềm tin vào một thực tại cao cấp của một số hình thể được tạo bởi những liên tưởng mà trước đây thường bị bỏ qua, vào quyền lực vô hạn của giấc mơ, vào hoạt động không vụ lợi của tư duy.
Nó hướng tới sự phá hủy một lần và vĩnh viễn mọi cơ chế tâm lý khác và thay thế chúng để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống [22]. Lưu ý rằng cái Breton nói tới ở đây là tư duy (thought), tức bao gổm cả 3 trạng thái: ý thức (conscious), tiền ý thức (preconscious), và vô thức (unconscious). 10 André Breton đã khuyến khích các nghệ sĩ “giải quyết trước tiên các điều kiện mâu thuẫn giữa các giấc mơ và hiện thực để đi đến một hiện thực tuyệt đối, một siêu hiện thực”. Chủ nghĩa siêu hiện thực là một trào lưu lên án chiến tranh và bạo lực như Hans Arp trước đây đã viết về Dada cũng vậy: “Chúng tôi tìm kiếm một nghệ thuật nền tảng và theo chúng tôi, sẽ cứu rỗi mọi người khỏi sự ngu xuẩn mang tính bạo tàn của những thời kỳ này (Dadaland)”.
Hội họa siêu thực là một phương pháp thực nghiệm nhằm phát hiện hiện thực của tâm thần học. Năm 1929, Breton ra bản “tuyên ngôn siêu thực lần thứ hai” trong đó ông viết “Tới một điểm nào đó tâm tư con người sẽ cảm thấy không còn đối kháng giữa sống và chết, giữa thực và ảo, giữa quá khứ với tương lai, giữa cao và thấp, giữa điều có thể và điều không thể truyền cảm…” 1. Yếu tố siêu thực trong tranh * Không gian: Quan niệm không gian phương Đông về sáng tạo nghệ thuật là một phương hướng đi từ Ý, đến Tượng, đến Hình. - Ý là trừu tượng: Nó là những cái còn mơ hồ và trừu tượng.
- Tượng là khái quát mang tính biểu trưng hoặc khái niệm theo các hình kỷ hà và các hình khái quát. - Hình là những cái có thể như: hình thị giác, hình nhịp điệu, hình cách điệu, hình cấu trúc. Bao gồm những không gian như: - Không gian do con người tổ chức. - Không gian của tự nhiên: Là không gian hiện thực vốn có.
- Không gian tôn giáo và tín ngưỡng: Tâm linh, trí tuệ - Không gian nguyên thuỷ: Không gian bản năng Quan niệm về không gian trong tạo hình của phương Tây bao gồm: 11 - Không gian nguyên thuỷ: Không gian bản năng - Không gian tôn giáo, công giáo: Không gian trí tuệ, tâm linh - Không gian thấu thị: Hiện thực - Không gian Barốc: Cái động của khối trong ánh sáng. - Không gian đối lập ánh sáng: Cổ điển - Không gian ấn tượng: Màu sắc trong ánh sáng. - Không gian lập thể: Phá vỡ cái nhìn từ một góc nhìn. - Không gian siêu thực: Vượt quá hiện thực đến sự phi lý.
- Không gian trừu tượng: Các cấu trúc về hình mảng. + Không gian thực tại Không gian thực tại mà chúng ta nhìn thấy trước mắt chỉ là một không gian hữu hạn, trong đó các vật thể nặng có trọng lượng, khối tích đóng vai trò quan trọng nhất. Con người có thể ngắm nghía, sờ mó một cách cụ thể. Người ta tưởng rằng chỉ có thế giới hữu hạn mới là thực tại.
+ Không gian của trí tượng tượng Trong sân khấu,điện ảnh không gian của trí tưởng tượng cũng đã được đề cập đến. Như những cảnh thần tiên trên trời hoặc cảnh dưới địa ngục cũng làm cho trí tưởng tượng của con người được mở rộng hơn. Những suy nghĩ và ước mơ phong phú hơn. * Giấc mơ: Tuyên ngôn của Breton khẳng định rằng “giấc mơ và hiện thực sẽ chuyển hoá thành một kiểu thực tế tuyệt đối, một cái siêu thực, nếu ta gọi như vậy”.
Mối bận tâm của các nhà siêu thực chính là sự hợp nhất: hợp nhất giữa logic và phi lý, giữa giấc mơ và lúc thức tỉnh, giữa quãng thời gian tồn tại trên đời và các giá trị vĩnh cửu. Sự hợp nhất này đã được các hoạ sĩ siêu thực thể hiện bằng một phương tiện rất đặc thù là lỗi vẽ tự do, hồn nhiên, vẽ vô thức, không theo một quy luật nhất định. 12 * Sự biến dạng của hình thể: Thế giới thực chứa đựng nhiều cái phi lí, chính là những hình ảnh phi lớ cú thể được sáng tạo ra bằng trí tưởng tượng về những miền khoái cảm hay những ác ý đều có những ẩn ý. Ngoài sự biểu hiện nghệ thuật, óc tưởng tượng về những hỡnh biến dạng đó chứa đựng những thông điệp nhiều khi rất sâu sắc, cũng cú thể là thể hiện những xung đột nội tâm.
Tranh Siêu thực Tranh siêu thực bao gồm các yếu tố siêu thực như: Không gian, trí tưởng tượng, giấc mơ, cảm giác, âm thanh… mà các yếu tố đó vượt quá hiện thực. Có cả hai thế giới hiện thực: hiện thực hữu hình có thực và hiện thực tồn tại trong tiềm thức, có thể là không gian nhìn thấy một phần, có thể là không gian của suy tư. Sự dai dẳng của kí ức, của nỗi nhớ niềm thương hay là của trí tưởng tượng phong phú của con ngưòi làm nghệ thuật. Trong đó người nghệ sĩ mô tả có những trạng thái ngược chiều nhau mà buộc người xem phải chuyển hoá từ logic thị giác sang những tầng logic khác.
Đó là sự hợp lí về suy tư, cảm giác, về trạng thái tâm hồn hay những siêu thức về trí tưởng tượng. Nội dung và phương pháp dạy học Mĩ thuật Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của giáo viên và học sinh, hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển. Giáo viên có vai trò định hướng, tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Ngược lại, học sinh có nhiệm vụ tiếp thu một cách có ý thức độc lập và sáng tạo hệ thống những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo hình thành năng lực và thái độ đúng đắn.
Giáo viên là chủ thể của hoạt động giảng dạy, người nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, nắm vững quy luật tâm lý nhận thức, thực hành và năng lực học tập của học sinh để hướng dẫn họ học tập có kết quả. Dạy học Mĩ Thuật Mĩ thuật là một trong những môn học của nghệ thuật. Nếu dạy - học là khó thì dạy nghệ thuật càng khó, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Môn nghệ thuật thuộc về năng khiếu khác với một số môn học có công thức, quy định rõ ràng đòi hỏi được vận dụng đúng và chính xác.
Các môn nghệ thuật có những vấn đề chung chung, vận dụng tùy thuộc vào đề tài, ý đồ, tình cảm của người thực hiện. Môn mĩ thuật ở trường CĐSP sẽ giúp sinh viên hiểu về cái đẹp, trang bị các kỹ năng cần thiết thông qua các phân môn chuyên ngành: Hình họa, Trang trí, Điêu khắc, Bố cục, Lịch sử mĩ thuật… Đó là những kiến thức bước đầu, cơ bản nhất của mĩ thuật. Tóm lại dạy học mĩ thuật là quá trình hoạt động nhận biết, cảm nhận, hiểu và vận dụng sáng tạo chung của thầy và trò trong lĩnh vực mĩ thuật. Trong quá trình này, GV là người định hướng, tổ chức, điều khiển, chỉ dẫn; SV là người tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách chủ động, sáng tạo và tích cực.
Phương pháp dạy học Mĩ thuật Môn mĩ thuật cũng như các môn học khác, cũng có những phương pháp dạy - học chung, nhưng cũng có những vấn đề riêng mang tính đặc thù riêng của nó. Vì vậy, dạy mĩ thuật phải tuân theo những phương pháp chung và phải có phương pháp riêng. GV dạy mĩ thuật cần nắm vững các phương pháp chung - riêng, biết cách vận dụng phương pháp chung vào dạy mĩ thuật. Vậy phương pháp dạy học mĩ thuật là gì? Có thể hiểu phương pháp dạy học mĩ thuật là cách thức, con đường chuyền tải những kiến thức về khoa học mĩ thuật, hình thành, phát triển các kỹ năng nhận thức và hoạt động mĩ thuật cho người học; là một hệ thống những hành động có mục 14 đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành mĩ thuật của học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học mĩ thuật.
Để SV học tốt mĩ thuật, GV vận dụng phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của SV. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kết hợp tốt giữa lí thuyết và thực hành. Bởi lí thuyết mĩ thuật mang tính định hướng cho thực hành chứ không đóng vai trò độc lập. Chính vì vậy nên lí thuyết chỉ cần vừa đủ và phải tăng cường thực hành để hiểu sâu, nắm chắc lí thuyết, đồng thời vững vàng thêm kĩ năng thực hành.
Vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, của từng đối tượng SV. Vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy học chung cho các môn như: Quan sát, trực quan, luyện tập… đồng thời tìm ra phương pháp dạy học đặc thù cho từng bộ môn. Không chỉ đơn giản là dạy kĩ thuật vẽ mà cần kết hợp dạy học cách cảm thụ cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật, của thế giới xung quanh. Với xu thế dạy học theo hướng tích cực như hiện nay, người học phải tự mình vận động một cách tự giác, tích cực để chiếm lĩnh khoa học nghệ thuật 1.
Bố cục Nói đến bố cục, tức là nói đến phạm vi lĩnh vực sáng tác nghệ thuật. Một tác phẩm hội họa được công bố trước quần chúng là một thành tựu tư duy, một quá trình lao động sáng tạo.