CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 1. Văn hóa dân gian và Văn hóa dân gian Việt Nam 1. Văn hóa dân gian Theo định nghĩa về Văn hóa dân gian (folklore) của UNESCO thì “Văn hóa dân gian theo nghĩa rộng là văn hóa truyền thống được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, là sáng tác để định hướng cho một nhóm người nào đó và được hình thành theo truyền thống của các nhóm người, các thành viên, phản ánh sự chờ đợi, niềm hy vọng của cộng đồng trong những biểu hiện tương ứng với nó về nhận thức xã hội và văn hóa. Các quy tắc, các giá trị của văn hóa dân gian được truyền đạt qua truyền miệng, mô phỏng hoặc bằng những con đường khác.
Hình thức của nó là ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, trò chơi, thần thoại, phong tục, nghi lễ, nghề thủ công, kiến trúc và các loại nghệ thuật khác”(1) Và trong từ điển Bách Khoa có viết rằng: “Văn hóa dân gian là bộ phận của văn hóa dân tộc bao gồm văn học dân gian (ca dao, dân ca, truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, truyện cười…), nghệ thuật dân gian (ca múa nhạc dân gian, tranh dân gian, phong tục, tập quán, đạo đức, lễ nghi thịnh thành trong dân gian…)”(2). Ngô Đức Thịnh thì ông đã nhìn nhận một cách đơn giản hơn, đó là:“Văn hóa dân gian là một thực thể sống nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động”(3). Và theo ý kiến của GS. Đinh Gia Khánh thì: “Văn hóa dân gian (folkculture) là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những sáng tạo của nhân dân lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu mọi mặt trong đời sống trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội.
Văn hóa dân gian gồm hai bộ (1) Định nghĩa về văn hóa dân gian, http://vanhoahoc.vn/diendan/ (2) Nguồn http://dictionary.vn/ (3) Ngô Đức Thịnh, Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc, Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội, 2006. 11 phận chính: vật chất (nhà, thuyền, các công trình kiến trúc…) và tinh thần (phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo lễ hội…). Theo quan niệm văn hóa là một hệ thống, thì văn hóa dân gian bao gồm ba thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian (ngôn từ, văn học dân gian); nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc, hội họa…); nghệ thuật diễn xướng dân gian (âm nhạc, sân khấu, lễ nghi, múa…).”(1) Vì có nhiều định nghĩa khác nhau như vậy, nên chúng tôi thống nhất chọn quan điểm về Văn hóa dân gian sau: Văn hóa dân gian là một khái niệm trong phạm trù văn hóa dùng để chỉ toàn bộ những sáng tạo của nhân dân lao động, sinh hoạt cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu mọi mặt trong đời sống trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội.
Văn hóa dân gian gồm hai bộ phận chính: vật chất và tinh thần. Theo quan niệm văn hóa là một hệ thống, thì văn hóa dân gian bao gồm 3 thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian. Văn hóa dân gian Việt Nam Văn hóa dân gian Việt Nam là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.TS Ngô Đức Thịnh đã từng viết: “Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có những nét văn hóa dân gian đặc trưng. Đó là truyền thống văn hóa truyền miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là văn hóa truyền thống và chữ viết”(2).
Ngôn từ truyền miệng ở văn hóa dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tác phẩm và thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm đó, đồng thời, cũng phản ánh hiện thực đời sống và ước mơ của người dân. Văn hóa dân gian Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bởi sự kết hợp hài hòa giữa các bản sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số. Nét đặc trưng của văn hóa dân gian Việt Nam là sự hòa (1) Đinh Gia Khánh, Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, NXB KHXH, 1989. (2) Ngô Đức Thịnh, Văn hóa dân gian với đời sống xã hội, Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt Nam, NXB.
Khoa học xã hội, 2006. 12 quyện bình đẳng, phát triển độc lập của văn hóa các dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ. Hơn 50 dân tộc đều mang những giá trị và bản sắc văn hóa dân gian đặc trưng, không có sự kì thị giữa các nền văn hóa. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, góp phần xây dựng nên một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.
Văn hóa dân gian Việt Nam cũng bao gồm ba thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian. Nghệ thuật ngữ văn dân gian bao gồm: tự sự dân gian, trữ tình dân gian và lời nói dân gian. Trong đó, tự sự dân gian gồm các thể loại như: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi và truyện thơ. Ví dụ như: truyền thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, truyện cổ tích “Tấm Cám”, sự tích “Núi vàng – Núi bạc”, sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, sử thi “Đăm Săn”,… Trữ tình dân gian bao gồm ca dao, dân ca với những câu hát quen thuộc được lưu truyền trong dân gian.
Và cuối cùng là thành ngữ, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn và súc tích, được đúc kết từ kinh nghiệm của nhân dân lao động Nghệ thuật tạo hình dân gian bao gồm kiến trúc dân gian (nhà Rông, nhà mồ của người Tây Nguyên, đình làng, nhà truyền thống các vùng miền, chùa miếu,…); hội họa dân gian và trang trí dân gian (tranh Đông Hồ, những họa tiết trên bề mặt trống Đồng, tranh Tố Nữ,…). Với nghệ thuật diễn xướng dân gian, mỗi miền đất nước (3 miền) sẽ có những loại hình đặc trưng như: ở miền Bắc sẽ có tuồng, chèo, hát quan họ, hát trống quân,…Ở miền Trung có hò (hò trên cạn, hò trên sông nước), các loại lý (lý tang tịt, lý con chuồn chuồn,…) và các loại hát trong đó hát ru là phổ biến nhất. Và ở miền Nam có đờn ca tài tử, cải lương,vv… Văn hóa dân gian Việt Nam còn bao gồm cả những lễ hội dân gian lớn và quen thuộc như: lễ hội “Đền Hùng”, lễ hội “Chùa Hương”, lễ hội “Đâm trâu”, lễ 13 hội “Đua voi”, lễ hội “Đua thuyền”, lễ hội “Bà Chúa Xứ”,… Sự đa dạng và phong phú của các lễ hội văn hóa dân Việt Nam đã làm toát lên vẻ đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, đây cũng là điểm hấp dẫn khách tham quan du lịch.Khu du lịch văn hóa và các khu du lịch văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh 1.
Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất so với các tỉnh thành khác trên cả nước, đồng thời, cũng là khu vực kinh tế trọng điểm và trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng tại Việt Nam. Nằm ngay trung tâm giao lưu văn hóa của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh không những là đầu mối giao thông nối liền các vùng trong tỉnh mà còn là cửa ngõ Quốc tế cực kì quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương và buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu hút rất đông nguồn lao động. Vì thế, dân cư tại thành phố đang có xu hướng ngày càng gia tăng.
Theo số liệu thống kê cho thấy, đến ngày 01 tháng 04 năm 2010 thì dân số tại thành phố Hồ Chí Minh đã đạt đến con số là 7. Các chuyên gia và các nhà nghiên cứu khoa học đã cho rằng, dựa vào lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, trong mọi hình thái kinh tế - văn hóa - xã hội thì dân số luôn là động lực chính và là trung tâm của sự phát triển(2), đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến truyền thông và du lịch. Từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, thành phố Hồ Chí Minh cùng với cả nước đã có những bước tiến đổi mới quan trọng. Kinh tế Thành phố ngày càng phát triển cùng với cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thành phố chú trọng phát triển các ngành (1) Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tháng 04/2010. (2) Hà Thư, Dân số và phát triển bền vững, báo Gia đình và Xã hội. 14 kinh tế trọng điểm, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện thu hút rất đông các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Môi trường kinh doanh ngày càng được cải tiến thể hiện rõ sự năng động, sáng tạo của mọi người dân.
Tỷ trọng GDP của thành phố luôn chiếm phần lớn tỷ trọng GDP của cả nước(1). Kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy đời sống tinh thần của người dân ngày càng phát triển. Những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đầu tư phát triển kinh tế, thành phố còn đầu tư phát triển nền văn hóa giáo dục.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tổ chức rất nhiều các lễ hội văn hóa, truyền thống, cũng là nơi thực hiện rất tốt các chính sách xóa đói giảm nghèo, hiến máu nhận đạo, chính sách hỗ trợ đối với những người có công với Cách mạng(2).2 Khu du lịch văn hóa Trong một vài năm qua, nước ta đã đưa ra một ý kiến rất xác thực. Đó là sự ẩn mình tiềm tàng của văn hóa bên trong du lịch, vừa là mục tiêu mang tính định hướng, vừa là một quan điểm để đưa ra khẳng định rằng, văn hóa là nội dung, là bản chất, là nền tảng để xây dựng nên những thành phần chính của du lịch Việt Nam. Nó đã góp phần tạo nên tính hấp dẫn, đa dạng, độc đáo và đặc sắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch Việt Nam, cũng như, đưa hình ảnh của Quốc gia đến với bạn bè các nước trong khu vực. Về khái niệm khu du lịch thì trong điều bốn của Luật du lịch có viết: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”(3).