phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài bao gồm những chƣơng sau: Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH, LƢU TRUYỀN VĂN HỌC DÂN GIAN LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH TÂM LINH TỈNH LẠNG SƠN Chƣơng 2: HỆ THỐNG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH TÂM LINH TỈNH LẠNG SƠN Chƣơng 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KHAI THÁC GIÁ TRỊ TRUYỆN KỂ DÂN GIAN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TỈNH LẠNG SƠN 8 Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH, LƢU TRUYỀN VĂN HỌC DÂN GIAN LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH TÂM LINH TỈNH LẠNG SƠN Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi tập trung tìm hiểu những vấn đề có ảnh hƣởng trực tiếp cũng nhƣ gián tiếp đến sự hình thành, lƣu truyền của văn học dân gian, đặc biệt là các vấn đềcó mối liên hệ mật thiết đối với văn hóa tâm linh của tỉnh Lạng Sơn. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, chúng tôi tập trung vào các phƣơng diện cụ thể về địa lí,con ngƣời và văn hóa nơi đây. Trong đó, chúng tôi chú trọng đến các yếu tố về điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc ngƣời, văn hóa dân gian và văn hóa tâm linh của các cộng đồng dân tộc đã – đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Đây có thể coi là những yếu tố có chi phối trực tiếp đến sự hình thành và phát triển văn học dân gian liên quan đến du lịch tâm linh của vùng đất này.
Vùng văn hóa tâm linh Lạng Sơn Khi nhắc đến khái niệm vùng văn hóa tâm linh Lạng Sơn, chúng tôi tập trung tìm hiểu và khai thác các khái niệm vùng văn hóa và văn hóa tâm linh. Trong đó: Vùng văn hóavốn một khái niệm đãđƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc quan tâm, nghiên cứu và khẳng định trong nhiều công trình cụ thể. TS Lê Ngọc Thống đã nêu rõ: “Vùng văn hóa là khái niệm phản ánh tính hệ thống tổng thể của một không gian văn hóa với những đặc trƣng chung có thể tạo nên những nét khác biệt trong so sanh với các vùng văn hóa khác”[34 - tr. Tác giả Võ Đông Hồ khi phân tích về các vùng văn hóa Việt Nam cũng nhận định: “Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, đƣợc tạo thành bởi các đơn vị dân cƣ trên một phạm vị địa lý của một hay nhiều tộc ngƣời, sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thai tâm lí cộng động thể hiện trong môi trƣờng xã hội nhân văn thông qua các hình 9 thức ứng xử của con ngƣời với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài”[16 – tr.
Khi đó, đặt trong tổng thể vùng văn hóa Việt Băc, vùng văn hóa Lạng Sơn có thể coi là một tiểu vùng văn hóa. Vốn thuộc vùng địa đầu, có lịch sử lâu dài trong lãnh thổ Việt Nam, đồng thời là nơi tồn sinh của nhiều dân tộc anh em, văn hóa vùng đất Lạng Sơn mang đậm những sắc thái riêng biệt. Nét đặc sắc trong văn hóa Lạng Sơn đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu khái quát qua khái niệm “Xứ Lạng”.Trong cuốn “Lạng Sơn nơi địa đầu tổ quốc”, các tác giả đã định nghĩa về văn hóa xứ Lạng nhƣ sau: “Xứ Lạng đƣợc coi là một tiểu vùng văn hóa riêng biệt nằm trong vùng văn hóa Việt Bắc – Đông Bắc. Ngay từ “xứ Lạng” (trƣớc chỉ tỉnh Lạng Sơn) cũng đã hàm nghĩa đây là một vùng văn hóa dân gian (Folklore) và “xứ” là một từ chỉ một vùng có thể rộng mà có thể hẹp, rất hẹp và thƣờng do dân gian gọi mà thanh (…).
Từ “xứ” ngày nay chỉ để gọi trong dân gian, trong văn hóa văn nghệ, nó không đƣợc coi là một đơn vị hành chính quốc gia. Từ “xứ” gọi là một “vùng xứ” để gây ấn tƣợng cảnh quan nào đó của một vùng có cái gì đó nổi bật và riêng biệt”[9 – tr. Hay theo các tác giả trong cuốn “Ai lên xứ Lạng”:“Tổng hợp các nghiên cứu thì xứ Lạng theo các nhà nghiên cứu đã đƣa ra giả thiết từ Lạng là một từ Hán Việt cổ kết hợp với từ Lũng trong ngôn ngữ Tày, Nùng dƣới dạng ngữ âm Hán Việt cổ, theo ngữ nghĩa cổ để chỉ địa danh các điểm cƣ trú Tày, Nùng. Xứ Lạng là xứ sở gồm có nhiều lũng.
Và nhƣ vậy, Lạng có nghĩa là “núi cao đẹp” nhƣ hình dáng núi Lạng đã đƣợc miêu tả. Xứ Lạng là xứ sở của những lũng, là xứ sở núi non hùng trang lâu đời, mang nặng mối tình gắn bó Việt – Tày – Nùng lịch sử, thấm sâu ngay trong bản thân địa danh”[37 – tr.7,8] 10 Nhƣ vậy, dù định nghĩa theo cách nào, vùng văn hóa Lạng Sơn hay văn hóa xứ Lạng đều đƣợc coi là một vùng không gian giàu bản sắc văn hóa, là nơi sinhtồn, gắn bó và phát triển của nhiều tộc ngƣời, do vậy, văn hóa nơi đây cũng là sự kết hợp, dung hòa của nét văn hóa đa dân tộc. Ở đó, chúng ta thấy đƣợc vẻ đẹp của những câu ca, truyện kể hay những điệu sli với hƣơng sắc hoa hồi thấm đƣợm, với sự nồng nàn của men rƣợu và sự gắn kết tình ngƣời của các tộc ngƣời Việt – Tày – Nùng anh em. Về vùng văn hóa tâm linh, hiện nay ở Việt Nam, tâm linh đang là một vấn đề phức tạp còn nhiều ý kiến tranh cãi.
Văn hóa tâm linh thực tế cũng là một khái niệm khá mới, đƣợc xuất hiện trong những năm gần đây. Khi đánh giá về khái niệm này, các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Ví nhƣ: Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn hóa tâm linh quan niệm: “Văn hóa tâm linh đƣợc hiểu là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thƣờng và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngƣỡng tôn giáo”[13, tr.26] Trong công trình nghiên cứu Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại,tác giả Hoàng Minh Phƣơng lại cho rằng: “Văn hóa tâm linh là những giá trị văn hóa tinh thần thiêng liêng bao gồm những giá trị văn hóa vô hình (những nghi lễ, ý niệm, tập tục, lễ hội.) và những giá trị hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, chùa. Xét ở góc độ khác, Giáo sƣ Trần Đình Sử lại khẳng đinh trong bài viết Văn học và văn hóa tâm linhcủa mình nhƣ sau: “Xét về góc độ nhân loại văn hóa tâm linh là một bình diện của văn hóa các tộc ngƣời gắn với các phong tục tập quán cố định trong ngôn ngữ, đúc rút thành các motif, các mẫu gốc thi pháp của các truyện kể truyền thống” [38].
Hay nhƣ, tác giả Đặng Văn Bài đã bày tỏ quan điểm “Văn hóa tâm linh là thái độ ứng xử văn hóa của con ngƣời đối với các lực lƣợng siêu nhiên, 11 thần linh với ngƣời đã khuất” [3]trong bài viết Tản mạn về văn hóa tâm linh của người Việt. Có thể nói, quan điểm về văn hóa tâm linh của các nhà nghiên cứu kể mặc dù chƣa thống nhất nhƣng đều đã khẳng định: văn hóa tâm linh gắn liền với đời sống tinh thần của con ngƣời, là những giá trị thiêng liêng vừa vô hình vừa hữu hình trong đời sống tinh thần của nhân dân. Vùng văn hóa tâm linh vì vậy chính là những không gian chứa đựng niềm tin, tín ngƣỡng trong đời sống tâm linh linh thiêng của con ngƣời. Thái độ ứng xử của con ngƣời trƣớc những quan niệm thiêng liêng về thế lực siêu nhiên, về thần linh và những ngƣời đã khuất đƣợc thể hiện một cách rõ néttrong loại hình không gian này.
Ở Lạng Sơn, vốn là một địa danh có khoảng 400 cơ sở thờ tự tín ngƣỡng dân gian nhƣ: đình, đền chùa, thánh thất… và khoảng trên 300 lễ hội văn hóavới sự đa dạng, phong phú về hình thức. Trong đó, lễ hội tín ngƣỡng truyền thống dân gian là hình thức chủ yếu. Với những giá trị tín ngƣỡng, tâm linh đó, Lạng Sơn đƣợc coi là một trong những vùng văn hóa tâm linh đặc sắc, có vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển lâu đời của vùng văn hóa Đồng Bằng Bắc Bộ nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung. Đây cũng chính là ngọn nguồn cho sự hấp dẫn, độc đáo của văn học dân gian xứ Lạng.
Những câu chuyện, những sự tích, những quan niệm dân gian gắn liền với niềm tin tín ngƣỡng tâm linh của ngƣời dân nơi đây đã đi sâu vào mạch ngầm văn hóa dân gian, tạo nên một sợi dây liên hệ bền chặt giữa văn hóa dân gian và văn hóa tâm linh ở Lạng Sơn. Điều kiện tự nhiên, xã hội Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, nằm ở khu vực Đông Bắc, Việt Nam. Từ xƣa đến nay, Lạng Sơn đƣợc biết đến là dải đất biên thùy, địa đầu tổ quốc. Trong khu vực miền núi phía Bắc, đây đồng thời là một nút thắt quan trọng về giao thông, kinh tế.
Lạng Sơn giáp tỉnh Cao Bằng ở phía bắc, giáp tỉnh Bắc Giang ở phía Nam, giáp tỉnh Quảng Ninh owr phía Đông, và giáp tỉnh Thái 12 Nguyên, Bắc Kạnở phía Tây. Lạng Sơn vì vậy chính là điểm đầu tronghuyết mạch giao thông Bắc – Nam, một huyết mạch giao thông quan trọng bậc nhất trên dải dất hình chữ S. Đặc biệt, tỉnh Lạng Sơn có đƣờng biên giới dài, phía Đông tiếp giáp với khu tự trị dân tộc Choang của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc. Đây cũng là một trong những khu vực văn hóa đặc sắc của Trung Quốc, mà trong quá trình giao lƣu văn hóa Việt – Trung cũng có ảnh hƣởng không nhỏ đến một số phong tục, đời sống của nhân dân vùng biên.
Vì vậy, cho đến nay, Lạng Sơn vẫn luôn đƣợc coi là vùng đất “phên giậu”, là “cửa ngõ chính” của Việt Nam trong mối quan hệ giao lƣu, đối ngoại với Trung Quốc, là điểm khởi đầu của “sự giao lƣu văn hóa hằng xuyên Nam – bắc”. Có thể nói, vị trí địa lý thuận lợi nhƣ vậy đã đem đến sự đặc sắc trong văn hóa, cũng nhƣ những tiềm năng không nhỏ về thƣơng mại, du lịch và vấn đề giao lƣu kinh tế quốc tế cho Lạng Sơn. Từ đó, đời sống tâm linh của con ngƣời Lạng Sơn càng trở nên phong phú, đa dạng hơn. Về điều kiện tự nhiên, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi có địa thế đối thấp.
Đồi núi chiếm khoảng 80% trong tổng diện tích cả tỉnh, trong đó núi thấp và đồi là chủ yếu, rất ít núi cao. Điểm riêng biệt của vùng núi Lạng Sơn là sự kết hợp hài hòa của sông núi.