Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2014, ngành du lịch tỉnh Bạc Liêu ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng với mức tăng bình quân 22%/năm, đạt 973.000 lượt khách vào năm 2014 (tăng 2,4 lần so với mốc 391.000 lượt năm 2010). Doanh thu du lịch theo đó tăng trưởng gần 18%/năm, từ 180 tỷ đồng năm 2005 lên 857 tỷ đồng năm 2014. Tuy nhiên, mức đóng góp của du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) toàn tỉnh chỉ đạt 2,40% (khoảng 322 tỷ đồng), phản ánh thực trạng nguồn tài nguyên phong phú chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự phát triển mang tính tự phát và cục bộ của hệ thống điểm đến tâm linh. Bạc Liêu không sở hữu địa hình sông nước miệt vườn hay biển đảo nổi trội như Cần Thơ, Tiền Giang hay Kiên Giang, nhưng lại là nơi hội tụ không gian văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer. Dù Tỉnh ủy Bạc Liêu đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU với định hướng "Bạc Liêu đi lên từ văn hóa" và xác định Quán Âm Phật Đài là trọng tâm thu hút, việc đầu tư vẫn còn manh mún, chất lượng dịch vụ chưa cao và ngày lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt mức khiêm tốn 1,26 ngày.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch tín ngưỡng, tôn giáo; đánh giá định lượng và định tính thực trạng khai thác tài nguyên tại các điểm đến tiêu biểu như Quán Âm Phật Đài, Nhà thờ Tắc Sậy, Chùa Giác Hoa; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn trên địa bàn hành chính tỉnh Bạc Liêu. Phạm vi thời gian khảo sát thực địa được tiến hành từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2018, kế thừa chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2005 - 2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo đòn bẩy nâng cao thu nhập cho hơn 2.050 lao động ngành du lịch và tối ưu hóa chuỗi giá trị dịch vụ địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp nhiều lý thuyết và mô hình chuyên ngành du lịch học:

  • Lý thuyết mẫu hình phát triển du lịch của tác giả Nguyễn Đình Hòe: Phân tích sự chuyển dịch qua 3 hình thái phát triển gồm du lịch áp đặt (mô hình bao cấp, chỉ đạo từ trên xuống), du lịch thị trường (du lịch ồ ạt, bị chi phối bởi lợi nhuận ngắn hạn) và du lịch bền vững (mô hình từ dưới lên, đề cao sự tham gia của cộng đồng bản địa).
  • Khung mục tiêu phát triển du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): Vận dụng hệ thống 12 tiêu chuẩn cốt lõi bao gồm tính khả thi kinh tế, sự thịnh vượng địa phương, chất lượng việc làm, công bằng xã hội, an sinh cộng đồng và bảo tồn tính toàn vẹn văn hóa - môi trường.
  • Mô hình cấp độ du lịch tôn giáo của Trần Thị Hiên: Phân định hoạt động du lịch tâm linh thành 3 tầng bậc tiến triển: Cấp độ 1 (Tham quan, vãn cảnh và khám phá kiến trúc địa danh), Cấp độ 2 (Tổ chức các hoạt động hành lễ, nghi thức) và Cấp độ 3 (Hành hương, chiêm bái và trải nghiệm chiều sâu đời sống tâm linh).

Khung lý thuyết vận hành dựa trên 4 khái niệm cốt lõi:

  • Tín ngưỡng, tôn giáo: Hệ thống niềm tin, sự sùng bái lực lượng siêu nhiên và các thực hành văn hóa gắn liền với thiết chế xã hội.
  • Tài nguyên du lịch văn hóa: Tập hợp các giá trị vật thể và phi vật thể có khả năng tạo ra sản phẩm du lịch khác biệt nhằm thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm của du khách.
  • Du lịch tín ngưỡng, tôn giáo: Loại hình du lịch văn hóa khai thác tính thiêng và các di sản vật thể, phi vật thể tôn giáo nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, cúng bái và giải tỏa áp lực tinh thần.
  • Du lịch bền vững: Phương thức khai thác đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và điểm đến nhưng vẫn bảo tồn nguyên vẹn giá trị cho các thế hệ tương lai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2005 - 2016, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập trong đợt khảo sát thực địa từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2018.

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được triển khai thông qua điều tra xã hội học với cỡ mẫu N = 300 phiếu hỏi dành cho du khách tại các điểm đến trọng điểm. Quy trình chọn mẫu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện tại thực địa, đảm bảo phản ánh đầy đủ cơ cấu khách nội địa, khách quốc tế và các nhóm độ tuổi, mục đích chuyến đi. Lý do lựa chọn cỡ mẫu 300 xuất phát từ yêu cầu đảm bảo độ tin cậy thống kê và tính đại diện cho quần thể du khách hàng triệu lượt mỗi năm đổ về Bạc Liêu.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phương pháp thang điểm tổng hợp kết hợp thống kê mô tả. Thang điểm đánh giá tài nguyên được lượng hóa theo thang đo 4 mức độ (từ 1 đến 4 điểm) trên 8 tiêu chí: Tính hấp dẫn, Tính liên kết, Cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật, Thời gian khai thác, Vị trí tiếp cận, Tính an toàn, Tính bền vững và Sức chứa. Việc lượng hóa này giúp so sánh trực quan, loại bỏ các định kiến chủ quan và xác định chính xác năng lực cạnh tranh của từng điểm đến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra 3 phát hiện cốt lõi về du lịch tín ngưỡng, tôn giáo tại Bạc Liêu:

  1. Quy mô lượng khách tăng trưởng nhanh nhưng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu thị trường: Khách nội địa luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 90% trong suốt giai đoạn 2005 - 2014, đạt đỉnh 96,5% vào năm 2014 với 948.000 lượt. Ngược lại, phân khúc khách quốc tế tuy tăng về số tuyệt đối từ 6.000 lượt (năm 2005) lên 25.000 lượt (năm 2014) nhưng tỷ trọng lại suy giảm từ 4,29% xuống chỉ còn 2,5%. Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế bình quân giai đoạn 2010 - 2014 đạt 16,23%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 23,55%/năm của khách nội địa.

  2. Hiệu quả kinh tế trên mỗi lượt khách ở mức thấp do thời gian lưu trú ngắn và cơ cấu chi tiêu lệch: Tỷ lệ khách lưu trú trong tổng lượng khách có xu hướng giảm liên tục từ 36,86% (51.613 lượt năm 2005) xuống còn 30,83% (300.000 lượt năm 2014). Ngày lưu trú bình quân năm 2014 chỉ đạt 1,26 ngày (khách quốc tế 1,10 ngày, khách nội địa 1,25 ngày). Trong cơ cấu nguồn thu 857 tỷ đồng, mua sắm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 32%, ăn uống đứng thứ hai với 30%, trong khi dịch vụ lưu trú chỉ đóng góp 18%.

  3. Sự chênh lệch sâu sắc về chất lượng hạ tầng và an ninh trật tự giữa các điểm đến tiêu biểu:

    • Quán Âm Phật Đài đạt điểm tuyệt đối (4/4 điểm) về tính hấp dẫn, khả năng liên kết trong bán kính 10km và sức chứa trên 500 người. Tuy nhiên, tính an toàn chỉ đạt 2/4 điểm do tình trạng người ăn xin và chèo kéo bán hàng rong diễn biến phức tạp.
    • Chùa Giác Hoa chỉ đạt tổng điểm hạ tầng 16/32 điểm (loại trung bình), trong đó tiêu chí bãi đỗ xe, cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống đều nhận điểm tối thiểu (1/4 điểm).

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố nguồn thu và thời gian lưu trú phản ánh rõ nét việc du lịch Bạc Liêu đang bị chi phối bởi mô hình "du lịch thị trường" tự phát. Phần lớn du khách tìm đến Quán Âm Phật Đài hay Nhà thờ Tắc Sậy chỉ dừng lại ở cấp độ 1 và cấp độ 2 (vãng cảnh, cầu an, dâng lễ trong vài giờ) mà chưa chuyển hóa sang cấp độ 3 (trải nghiệm chiều sâu văn hóa, thiền định hoặc lưu trú dài ngày).

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này nằm ở hệ thống lưu trú kém phát triển. Dù năm 2014 toàn tỉnh có 40 cơ sở lưu trú với 830 buồng, trong đó 28 cơ sở đạt chuẩn xếp hạng sao với 730 buồng (chiếm 87,95% tổng số buồng), quy mô bình quân mỗi cơ sở vẫn rất nhỏ lẻ và thiếu các tổ hợp nghỉ dưỡng tích hợp. Khi so sánh với các phát hiện của Ermias Kifle Gedecho tại Ethiopia hay Đặng Phương Anh tại Việt Nam, sự suy giảm tính tôn nghiêm do thương mại hóa không kiểm soát và xung đột không gian thờ tự là rào cản phổ biến khiến điểm đến mất dần sức hút với dòng khách cao cấp.

Các dữ liệu đánh giá 8 tiêu chí hạ tầng và an ninh trật tự khi được tổng hợp qua ma trận so sánh điểm đến cho thấy: Nếu chỉ dựa vào tính thiêng sẵn có mà không nâng cấp đồng bộ hạ tầng phụ trợ, địa phương sẽ rơi vào bẫy tăng trưởng nóng về lượng khách nhưng nghèo nàn về doanh thu thực tế giữ lại trong cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch tín ngưỡng Bạc Liêu theo hướng bền vững, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Nâng cấp hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú phụ trợ: Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu chủ trì phối hợp với Sở Giao thông Vận tải quy hoạch mở rộng các tuyến đường kết nối, mở rộng diện tích bãi đỗ xe tại Quán Âm Phật Đài và Nhà thờ Tắc Sậy lên gấp 2 lần hiện trạng. Mục tiêu nâng tổng số buồng lưu trú đạt chuẩn trên địa bàn từ 830 buồng lên trên 1.500 buồng, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2021.

  2. Chấn chỉnh an ninh trật tự và không gian cảnh quan văn minh: Công an tỉnh phối hợp với Ban Quản trị các cơ sở tôn giáo thành lập đội tuần tra liên ngành 24/7, xóa bỏ hoàn toàn 100% tình trạng chèo kéo khách, xin ăn biến tướng tại Quán Âm Phật Đài và Nhà thờ Tắc Sậy. Nâng chỉ số an toàn của các điểm đến từ mức 2 điểm (trung bình) lên mức 4 điểm (rất tốt), thực hiện ngay từ quý 4/2018 và duy trì định kỳ.

  3. Thiết kế chuỗi sản phẩm liên kết tuyến điểm gia tăng thời gian lưu trú: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu chủ trì liên kết các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tour khép kín trong bán kính 10km: Kết hợp Quán Âm Phật Đài - Khu lưu niệm Cao Văn Lầu - Chùa Xiêm Cán - Điện gió Bạc Liêu. Target metric hướng đến nâng ngày lưu trú bình quân từ 1,26 ngày lên 2,0 ngày và nâng tỷ trọng khách quốc tế vượt mức 5% vào năm 2023.

  4. Xây dựng cơ chế điều tiết tài chính và bảo tồn môi trường cộng đồng: Ban Tôn giáo tỉnh và Sở Tài chính ban hành quy chế minh bạch nguồn thu công đức và đóng góp dịch vụ, trích tối thiểu 15% doanh thu hàng năm phục vụ công tác tu bổ di tích và hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo quanh khu di tích, triển khai từ năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng hệ thống số liệu chuỗi 2005 - 2014 và bộ tiêu chí 8 chỉ số để làm căn cứ điều chỉnh quy hoạch tổng thể ngành du lịch, xây dựng chính sách thu hút đầu tư hạ tầng có trọng điểm.
  • Ban Trị sự, Ban Quản trị các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng: Ban trị sự Phật giáo tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng mục vụ Giáo xứ Tắc Sậy và ban quản lý các di tích có thể áp dụng khung quản trị an ninh, cách thức bài trí không gian thờ tự văn minh để giảm thiểu tiêu cực, nâng cao chất lượng đón tiếp phật tử và giáo dân.
  • Doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch: Các công ty kinh doanh du lịch trong nước và quốc tế có được dữ liệu thực tế về cơ cấu chi tiêu (32% mua sắm, 30% ăn uống, 18% lưu trú) và bản đồ bán kính liên kết 10km để thiết kế các gói tour chuyên đề tâm linh kết hợp văn hóa - sinh thái đặc thù.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên: Giới nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Văn hóa học có thể kế thừa phương pháp luận đánh giá thang điểm tổng hợp và cơ sở dữ liệu mẫu khảo sát N = 300 cho các đề tài nghiên cứu tương đồng tại các địa phương khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn tài nguyên du lịch tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Bạc Liêu có nét đặc thù nào nổi bật?
Bạc Liêu sở hữu sự giao thoa văn hóa độc đáo giữa ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer. Về tôn giáo, toàn tỉnh có 124 tự viện Phật giáo với gần 500 Tăng Ni (chiếm 19,12% dân số), hơn 21.000 giáo dân Công giáo (chiếm 2,4% dân số) tại 13 nhà thờ và 19 xứ đạo, tạo nên các trung tâm hành hương lớn bậc nhất miền Tây như Quán Âm Phật Đài và Nhà thờ Tắc Sậy.

2. Tại sao nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của mô hình du lịch bền vững thay vì tăng trưởng ồ ạt?
Giai đoạn 2005 - 2014 chứng kiến lượng khách tăng 22%/năm nhưng tỷ trọng đóng góp GDP chỉ đạt 2,40% (322 tỷ đồng) và ngày lưu trú thấp (1,26 ngày). Phát triển bền vững theo 12 tiêu chí của UNWTO giúp cân bằng lợi ích kinh tế, tránh thương mại hóa làm xói mòn tính tôn nghiêm và bảo vệ môi trường cảnh quan bản địa.

3. Đâu là rào cản lớn nhất trong việc thu hút khách quốc tế đến các điểm tâm linh tại Bạc Liêu?
Tỷ trọng khách quốc tế năm 2014 chỉ đạt 2,5% (25.000 lượt) trên tổng lượng khách. Nguyên nhân chính do hạ tầng lưu trú hạn chế (chỉ 28 cơ sở được xếp hạng sao), khoảng cách tiếp cận từ Cần Thơ mất 140km và thiếu hụt nguồn nhân lực thuyết minh am hiểu ngoại ngữ cùng triết lý văn hóa bản địa.

4. Phương pháp thang điểm tổng hợp được ứng dụng để đánh giá tài nguyên như thế nào?
Tác giả xây dựng khung đánh giá định lượng gồm 8 tiêu chí (Hấp dẫn, Liên kết, Hạ tầng, Thời gian, Tiếp cận, An toàn, Bền vững, Sức chứa) với thang điểm từ 1 đến 4. Phương pháp này giúp chỉ ra Quán Âm Phật Đài dẫn đầu về sức chứa và tính hấp dẫn (4 điểm) nhưng yếu về an toàn (2 điểm).

5. Luận văn đề xuất giải pháp gì để kiểm soát vấn nạn ăn xin và chèo kéo du khách?
Luận văn khuyến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thành lập tổ liên ngành túc trực thường xuyên tại các điểm nóng tâm linh, thiết lập ranh giới buôn bán cách biệt không gian thờ tự và nâng cao ý thức cộng đồng, nhằm đưa điểm an toàn trật tự từ mức 2 điểm lên 4 điểm tuyệt đối.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch tín ngưỡng, tôn giáo và xác lập bộ tiêu chí thang điểm tổng hợp gồm 8 chỉ số khoa học để định lượng năng lực khai thác tài nguyên văn hóa.
  • Phân tích thực chứng giai đoạn 2005 - 2014 chỉ rõ bức tranh tăng trưởng nhanh về lượng khách (đạt 973.000 lượt) nhưng giá trị gia tăng thấp do thời gian lưu trú ngắn (1,26 ngày) và dịch vụ lưu trú chỉ đóng góp 18% tổng doanh thu.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng tại Quán Âm Phật Đài, Nhà thờ Tắc Sậy, Chùa Giác Hoa, vạch rõ điểm nghẽn về hạ tầng bãi đỗ xe và chỉ số an ninh trật tự chỉ đạt 2/4 điểm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền lộ trình 2018 - 2023, phân định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ban Trị sự tôn giáo.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp lữ hành và giới nghiên cứu học thuật về du lịch văn hóa tâm linh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ dữ liệu khảo sát và khung đánh giá chi tiết trong toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Kim Ngoan để ứng dụng vào công tác quy hoạch du lịch thực tiễn tại địa phương.