phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm hai chương: Chƣơng 1: Những cơ sở của sách lƣợc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong Quan hệ Quốc tế Chương này điểm qua những khái niệm về sách lược “ dĩ bất biến ứng vạn biến “ trong tư tưởng phương Đông, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong ngoại giao Việt Nam. Và đi vào phân tích việc vận dụng sách lược “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong lịch sử đối ngoại Việt Nam với hai giai đoạn phân tích chính: (1) Thời kỳ kháng chiến chống Pháp; (2) Thời kỳ đấu tranh chống Mỹ thống nhất đất nước. Chƣơng 2: Quá trình vận dụng sách lƣợc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong Ngoại giao Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI Đây là phần nội dung chính của đề tài, chương này đi sâu phân tích quá trình vận dụng sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong thời kỳ đổi mới và hội nhập cũng với 02 giai đoạn phân tích chính: (1) từ năm 1986 – 2001; (2) từ năm 2001 - nay. Tổng kết những thành tựu Ngoại giao Việt Nam đạt được và tập trung vào việc đánh giá những cơ hội và những thách thức khi Ngoại giao Việt Nam áp dụng sách lược này, từ đó xin đưa ra một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng trong những giai đoạn tiếp theo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài vận dụng sách lược “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chủ tịch trong ngoại giao Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 là một trong những đề tài mặc dù đã có một số công trình khoa học tiếp cận, nhưng đây vẫn là một đề tài khó, bên cạnh đấy, do trình độ của học viên còn có hạn, mong các thầy, các cô và bạn bè đóng góp để tác giả luận văn có thể hoàn thành công trình tốt hơn.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ CỦA SÁCH LƢỢC “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ Ngày 31-5-1946, trước khi đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ dĩ bất biến ứng vạn biến” [53, tr. Thấu suốt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Cụ Huỳnh đã giải quyết suôn sẻ, hiệu quả, hợp lòng dân mọi sự cố gay cấn ở trong nước. Từ ngày đấy trở đi, sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã trở thành một trong những sách lược quan trọng của ngành đối ngoại của Việt Nam.
Với một số câu hỏi đặt ra như: sách lược này đã được hình thành trên cơ sở nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sách lược này như thế nào trong chỉ đạo công tác ngoại giao của Việt Nam trong những ngày đầu đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước của dân tộc? Chương một của luận văn sẽ tập trung phân tích một số nội dung chính sau: 1.Nhận thức chung về sách lƣợc “dĩ bất biến ứng vạn biến” 1. Khái niệm dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng phương Đông Xét về thực chất, câu "Dĩ bất biến ứng vạn biến" chỉ là một vế trong đôi câu đối hoàn chỉnh. Vế thứ hai trong câu đó chính là "Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm" (Lấy tâm chúng sinh làm tâm của mình) trong nền văn hóa, triết học phương Đông [31, tr. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng phương Đông là một nhận thức quan trọng – đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên.
Một mặt thì vật chất và ý thức không tách rời nhau. Không có vật chất 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thì cũng chẳng có ý thức. Ngược lại, không có ý thức thì vật chất như thế nào ta cũng không biết. Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, luôn vận động mà ý thức, tinh thần cũng luôn vận động.
Hai cái luôn vận động như vậy, phải làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vấn đề này triết học Phương Đông đã đưa ra giải pháp như là tập trung tư tưởng, giữ cho tâm yên tĩnh, tỉnh táo. Như vậy, vấn đề mà triết học phương Đông đề cập đến ở đây là dùng cái tĩnh trong sáng được tập trung cao độ để nắm bắt cái động, “dĩ biến bất biến ứng vạn biến”. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi).
Đây là một vấn đề khá lý thú so với nhận thức thông thường. Theo triết học phương Đông, giữa cái "bất biến" và cái “vạn biến" có mối quan hệ giữa biện chứng. Mối quan hệ giữa bất biến và vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng, giữa cái nhất (cái một) và cái đa (cái nhiều),. là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây.
Đây là một tư tưởng hết sức sâu sắc của triết học, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương. Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, thay đổi khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó, đó là bản thể, cái mà Trang Tử gọi là "Chốt của đạo" [31,tr. Trong mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng thì bản thể là bất biến, không sinh không diệt; còn các hiện tượng biến chuyển không ngừng nay còn mai mất, trong mỗi nền triết học, cái bất biến – bản thể không thêm không bớt này được gọi bằng những cái tên khác nhau, chẳng hạn như “Brahman” trong triết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học Ấn Độ, “Đạo” trong học thuyết Lão Trang, “Thái cực” trong Kinh dịch, “vật chất” trong chủ nghĩa duy vật , “tâm” trong chủ nghĩa duy tâm”. Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối.
Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái "bất biến" (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều kiện tồn tại của sự vật). Triết lý "Dĩ bất biến ứng vạn biến" còn một khía cạnh nhận thức luận khá quan trọng mà ít người bàn tới. Theo nghĩa đen: Dĩ bất biến ứng vạn biến là, lấy cái động đối phó với cái “manh động”, theo nghĩa bóng: Người hay là người bình tĩnh sáng suốt, lập trường vững chắc thì có thể đối phó được mọi sự thay đổi xung quanh mình. Phép biện chứng duy vật Mác xít cũng đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biến và vạn biến trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam.
Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan: "Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định" [31, tr.256 ], ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biến (dù có dữ dội như sấm sét). Cái bất biến trong nhận thức chính là cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo, trong sáng, sáng suốt, minh mẫn. Với cái tâm này (bất biến) thì có thể ứng với cái vạn biến, tức nhìn nhận sự vật hiện tượng biến đổi bên ngoài rõ ràng hơn, khách quan hơn, đúng đắn hơn. Không thể nhìn vạn vật một cách chính xác, khách quan khi cái tâm đầy dục vọng, tham vọng đen tối, đầy cá nhân ích kỷ.
Triết học phương Đông ví cái tâm bất biến như mặt hồ phẳng lặng, yên tĩnh, trong veo, không một gợn sóng, từ đó những viên cuội dưới đáy hồ cũng hiện 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lên rõ ràng; còn cái tâm đầy dục vọng đen tối, chao đảo, giống như mặt hồ nổi sóng, cát bụi mù mịt, bởi vậy, nhìn sự vật hiện tượng dưới đáy hồ không rõ, tức không nhìn ra đặc biệt là bản chất của sự vật hiện tượng. Vậy "dĩ bất biến ứng vạn biến" theo cách nói của triết học Phương Đông, có thể hiểu "bất biến" là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn "vạn biến" là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng. Ý nghĩa nhân sinh sâu xa của triết lý này còn là ở chỗ, trong cuộc sống nên nắm giữ cái lớn lao, đừng có sa vào những cái vụn vặt nhất thời, nên đứng ở chốt (cái bất biến) mà quan sát, từ đó dung hòa, quân bình vạn vật. Những bậc thánh nhân luôn đứng ở cái bất biến mà quan sát cái vạn biến, dùng bất biến ứng phó với cái vạn biến, do đó mà thánh nhân trường cửu (bất biến).
Không nắm được cái bất biến mà suốt đời cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời mõi mệt [31, tr. Khái niệm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tƣ tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh Dĩ bất biến ứng vạn biến là một phương pháp ngoại giao rất đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ triết lý phương Đông và đã được cha ông ta vận dụng tài tình trong bao thế kỷ đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và tiếp tục phát triển, đã vận dụng hiệu quả và sáng tạo triết lý và kinh nghiệm “lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi” [20, tr.367] để chỉ đạo cách mạng Việt Nam vượt qua những giai đoạn khó khăn, để bảo vệ nhà nước và chính quyền cách mạng Việt Nam non trẻ, để tranh thủ mọi cơ hội có thể được nhằm cứu vãn hoà bình, xây dựng thế và lực sẵn sàng đối phó và khắc phục mọi thử thách. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.