CHƯƠNG 1 NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại giao. Cũng chính vì vậy, Người không chỉ nêu những quan điểm chỉ đạo mà còn trực tiếp thực hiện vấn đề này ngay từ khi đất nước chưa giành được chính quyền (trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945) nhằm mục tiêu: phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân. Quan điểm chỉ đạo của Người lúc này là: Tăng cường hợp tác, đoàn kết với giai cấp vô sản và các lực lượng cách mạng trên toàn thế giới không phân biệt màu da, không phân biệt dân tộc, cốt tập hợp được mọi lực lượng, nhằm đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở, nền tảng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hợp tác quốc tế. Tư tưởng hợp tác, đoàn kết các lực lượng của dân tộc với lực lượng cách mạng thế giới đã từng bước được Người thực hiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vấn đề hợp tác quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp chỉ đạo với chủ trương, đường lối và xây dựng chính sách cụ thể. Người đã đề ra một số quan điểm mang tính nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta như sau: 1.
Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính, đồng thời trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau Độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính là đặc điểm nổi bật trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc, hoạch định đường lối chiến lược cho mọi giai đoạn cách mạng Việt Nam, trong đó có đường lối ngoại giao của Đảng. Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người trong hoạt động ngoại giao thể hiện ở tính chủ động và tự quyết trong việc xác định đúng vai trò, vị trí, lợi ích của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, đồng thời đánh giá khách quan môi trường quốc tế thực tại, xác định 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đúng thời cơ và thách thức để từ đó hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp, phục vụ cho lợi ích chính đáng của dân tộc, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Trong quan hệ quốc tế, đòi hỏi mỗi nước phải luôn giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.
Độc lập, tự chủ tức là dựa vào sức mình là chính, có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học của quốc tế nhưng phải tự mình suy nghĩ, tìm tòi, định ra những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm giải quyết công việc của đất nước, không chịu một sức ép nào từ bên ngoài, không thể biến thành một con bài trong tay người khác. Độc lập, tự chủ thể hiện trước hết ở tư duy nhận thức và hành động tự chủ, sáng tạo, không giáo điều và rập khuôn. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh vấn đề mà nhiều lần đồng chí Mác - Lênin nhắc đi nhắc lại rằng, lý luận cách mạng không phải giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng và lý luận không phải là cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, từng lúc, từng nơi.
Trong quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh khẳng định nguyên tắc “độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở nước ngoài”. 162] Ngay từ khi thành lập Đảng và trong các văn kiện chỉ đạo hoạt động thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở tinh thần độc lập, tự chủ “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người còn nói: “sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
445] Do hoàn cảnh cuộc đấu tranh cách mạng của nước ta, sau khi nhân dân ta giành được chính quyền tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính và ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh. Từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn nhưng giành được thắng lợi phải do nỗ lực của chính bản thân ta quyết định. Khi nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, tự lực cánh sinh là “cái gốc, điểm mấu chốt” của mọi thắng lợi trong sự nghiệp cách 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Người xác định tự lực cánh sinh là một truyền thống và Người đã nói lên mối liên hệ giữa tranh thủ viện trợ quốc tế và tự lực cánh sinh. Hiệp định Gơnevơ 1954 đã để lại bài học về độc lập, tự chủ và hợp tác sâu sắc. Các nước lớn đã tác động đến tiến trình giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Thế và lực của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ còn hạn chế nhưng đã phản ánh được tương quan lực lượng ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng.
Từ kinh nghiệm của Hội nghị này, ngoại giao Việt Nam đã có bước trưởng thành, trong thời kỳ tiếp theo, ta đàm phán trực tiếp với Mỹ. Đường lối độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế được phát huy, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Để tăng cường thế và lực cho cách mạng nước ta trong thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược. Ngay năm 1955, Việt Nam đã đồng thời triển khai hoạt động đối ngoại trên nhiều hướng: Đấu tranh thi hành hiệp định Gơnevơ; tăng cường củng cố quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn kết giữa các đảng anh em, tăng cường sự thống nhất trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế; xây dựng quan hệ hữu nghị với chính phủ Khơme và Lào theo năm nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường đoàn kết với phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh; tham gia vào phong trào hòa bình và dân chủ thế giới, chống đế quốc, thực dân, hiếu chiến.
Chủ trương và những kết quả đạt được trong hoạt động đối ngoại của Đảng ta giai đoạn này thực sự là những yếu tố khởi đầu của chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế mà nước ta có thể thực hiện được trong điều kiện thực tiễn quan hệ chính trị thế giới lúc bấy giờ. Sau khi nước nhà giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn thực hiện một chính sách đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Bởi vậy, trong nhiều bài phát biểu, trả lời phỏng vấn báo chí, Người khẳng định, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam. Việc ta triển khai quan hệ trên nhiều hướng đã góp phần mở rộng tập hợp lực lượng quốc tế, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong cuộc kháng chiến cứu nước và tạo thuận lợi để ta tiếp tục tranh thủ được sự ủng hộ và viện trợ quan trọng của cả Liên Xô và Trung Quốc.
Trong hoạt động ngoại giao, độc lập tự chủ nhằm đảm bảo lợi ích dân tộc chính đáng, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản trong lợi ích của các dân tộc đan xen, chồng chéo. Độc lập tự chủ và tự lực, tự cường khác hẳn với chủ nghĩa biệt phái. Để chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong bối cảnh thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm tăng thêm khả năng tự lực, tự cường, tạo điều kiện làm chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng.
Vì vậy, độc lập tự chủ, tự cường phải gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, đồng thời kết hợp với đấu tranh kiên quyết và khôn khéo để thực hiện mục tiêu cách mạng và bảo vệ quyền lợi quốc gia. Đó là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động quốc tế và ngoại giao Việt Nam, được Đảng ta nâng lên thành đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ nhận định, cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam vì độc lập và thống nhất Tổ quốc là sự nghiệp cao cả và chính nghĩa, đã trở thành lương tâm và vinh dự của thời đại, được cả loài người tiến bộ và nhân dân Mỹ đồng tình ủng hộ. Bằng thiên tài trí tuệ, tình cảm quốc tế chân thành và trong sáng, bằng nghệ thuật ứng xử ngoại giao tinh tế, có lý, có tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì vận động thuyết phục làm cho bạn hiểu ta, tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ ta cho đến khi sự nghiệp thống nhất đất nước ta hoàn toàn thắng lợi.
Như vậy, giữ vững độc lập, tự chủ trong đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của cách mạng Việt Nam.