phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án có 03 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho học sinh (43 trang). Chƣơng 2: Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học hóa học 10 nâng cao nhằm phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho học sinh (70 trang). Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm (27 trang).
5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC HÓA HỌC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Về lí thuyết kiến tạo (constructivism), trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu việc hình thành, phát triển LTKT và vận dụng nó vào dạy học. Khái niệm kiến tạo có từ thời cổ xƣa, thời Xôcrat [32], [33]. Tiếp theo, LTKT đƣợc coi là xuất phát từ những nghiên cứu về sự phát triển và giáo dục trẻ em của nhà tâm lí học nổi tiếng ngƣời Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896 - 1980) [53].
Theo ông, quá trình nhận thức là sự thích nghi với môi trƣờng (bằng đồng hóa hay điều ứng). John Dewey cũng đã phát triển học thuyết này, ông cho rằng giáo dục phải dựa trên kinh nghiệm thực tế - điều này đã tạo nên bƣớc tiến cho LTKT [23]. LTKT là một trong những lí thuyết có uy tín của tâm lí học thế kỷ XX và có ứng dụng rộng rãi trong dạy học. Đồng thời nó là nguồn mạch dồi dào cho nhiều nghiên cứu tiếp theo về tâm lí học dạy học.
Các triết gia, nhà tâm lí học có công trong việc thêm những triển vọng mới cho LTKT và áp dụng LTKT vào TT là: Lev Vƣgotsky, Jerome Bruner, và David Ausubel [33], [36]. Vƣgotsky nhà tâm lí học Xô Viết, đã đƣa khía cạnh xã hội của việc học vào LTKT. Trong đó, Ông đã đƣa ra định nghĩa "vùng phát triển gần" (Zone of Proximal Developtment - ZPD). Jerome Bruner, một nhà tâm lí học ngƣời Mỹ, đã dành nhiều công sức nghiên cứu và vận dụng lí thuyết phát sinh nhận thức để xây dựng mô hình dạy học dựa vào sự khám phá của HS [84].
Cho đến ngày nay, nhiều nhà sƣ phạm ủng hộ quan điểm dạy học kiến tạo của Piaget và mô hình dạy học khám phá (Inquiry – based learning) của Bruner, vì nó phù hợp với cách con ngƣời học và phát triển. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu LTKT (theo xu thế chung và học tập kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới) và vận dụng nó vào dạy học đã đƣợc quan tâm 6 từ lâu. Nhất là từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX, nhiều hội thảo quốc tế đã đƣợc tổ chức ở Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh để trao đổi về dạy học theo LTKT. Tại các Hội thảo này, các nhà sƣ phạm Việt Nam hết sức quan tâm và có nhiều ý kiến đồng tình.
Theo đó, đã có một số nghiên cứu và vận dụng LTKT vào dạy học trong điều kiện TT giáo dục Việt Nam của các nhà nghiên cứu giáo dục nhƣ Nguyễn Hữu Châu, Phạm Hữu Tòng, …. Bên cạnh đó, những vấn đề chung về LTKT và dạy học theo LTKT cũng đƣợc đề cập ở một số tài liệu về đổi mới PPDH. Nhiều đề án, mô hình dạy học nhƣ: “Bàn tay nặn bột”, “Mô hình trƣờng học mới”… đã đƣợc triển khai tập huấn rộng khắp cho các GV đang đứng lớp. Tƣ tƣởng cốt lõi của các PP này cũng dựa trên việc vận dụng LTKT vào dạy học.
Việc vận dụng LTKT trong dạy học các môn học cụ thể cũng đƣợc nghiên cứu trong các luận văn, luận án hay các bài báo khoa học nhƣ: Dƣơng Bạch Dƣơng nghiên cứu PPDH một số khái niệm, định luật trong CT vật lí lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo (xây dựng). Tác giả đã vận dụng các quan điểm của dạy học kiến tạo để xây dựng PPDH theo hƣớng để HS tự bộc lộ các quan điểm sai, đồng thời cho rằng đây là PPDH có khả năng to lớn trong việc giúp HS tự bộc lộ, thay đổi các quan niệm sai và xây dựng các quan niệm đúng [25],.; Lƣơng Việt Thái nghiên cứu tổ chức quá trình dạy học một số nội dung vật lí trong môn Khoa học ở tiểu học và môn Vật lí ở THCS trên cơ sở vận dụng tƣ tƣởng của LTKT. Tác giả đã đề xuất tiến trình dạy học kiến tạo, xác định một số biện pháp giúp HS xây dựng kiến thức trên cơ sở vận dụng quan điểm kiến tạo đồng thời kết hợp sử dụng những phƣơng pháp nhận thức của môn Vật lí [57] …; Cao Thị Hà nghiên cứu dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo quan điểm kiến tạo. Trong đó, tác giả đã đề xuất một số định hƣớng dạy học hình học không gian và quy trình tổ chức dạy học hình học không gian theo quan điểm kiến tạo.
Tác giả cho rằng trong dạy học môn Toán ở trƣờng THPT cần khuyến khích, tạo điều kiện để HS tự xây dựng nên kiến thức, giúp HS hiểu đƣợc bản chất của tri thức [30],. và việc vận dụng LTKT vào quá trình dạy học sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới PPDH ở nƣớc ta hiện nay; Võ Văn Duyên Em nghiên cứu đổi mới PPDH 7 phần hóa học phi kim ở trƣờng THPT theo hƣớng dạy học kiến tạo – tƣơng tác với sự trợ giúp của CNTT. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu các biện pháp để điều tra các quan niệm sẵn có của HS và tạo lập môi trƣờng học tập tƣơng tác. Đã thiết kế ebook cho dạy học phần hóa học phi kim ở trƣờng phổ thông, nhƣng các nội dung trong ebook đó mới thể hiện đƣợc tinh thần của lí thuyết tƣơng tác.
Và hơn nữa, tác giả chƣađề cập đến việc vận dụng LTKTtrongdạyhọchóahọc đểphát triển NLcho HS [27];. Trong thực tế, việc vận dụng LTKT trong dạy học hóa học nhằm phát triển một số NL cho HS chƣa đƣợc nghiên cứu cụ thể. Về vấn đề tự học (self-learning), trong lịch sử giáo dục, vấn đề TH luôn đƣợc quan tâm và nhìn nhận theo nhiều khía cạnh khác nhau. TH đã đƣợc con ngƣời thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chƣa trở thành một ngành khoa học thực sự.
Từ những năm trƣớc công nguyên, các nhà bác học cổ đại Hy Lạp nhƣ Xôcrat (469 – 390 TCN), Arixtốt (384 – 322 TCN) … đã rất coi trọng phát huy tính tích cực, khả năng TH để HS không bị rơi vào tình trạng thụ động, để chúng trở thành những con ngƣời biết tự tìm ra chân lí. Còn ở phƣơng Đông cũng có nhiều nhà giáo dục lớn nhƣ Khổng Tử (551 – 479 TCN), Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Tuân Tử (khoảng 289 – 238 TCN)… đều ĐG cao vai trò của tự giáo dục, tự bồi dƣỡng. Luồng tƣ tƣởng này đã trở thành những viên gạch đầu tiên cho TH, tự giáo dục sau này phát triển [23], [68]. Lịch sử khoa học - nghệ thuật thế giới cũng đã ghi nhận những tấm gƣơng TH vĩ đại nhƣ: nhà bác học Ê-đi-xơn, tác giả của hàng ngàn phát minh khoa học có ích cho nhân loại, đại văn hào Nga Mácxim Gorki, ngƣời coi cuộc sống là "những trƣờng đại học của tôi".
Trong thời kì phong kiến, ở xã hội phƣơng Đông cũng nhƣ phƣơng Tây, nền giáo dục chú trọng đến vai trò của ngƣời thầy. Vai trò của tự giáo dục bị xem nhẹ. Cho đến tận thời kì Phục hƣng ở Châu Âu, việc giải phóng cá nhân, phát huy tính tích cực sáng tạo của HS mới trở thành ý tƣởng chung của nhiều nhà tƣ tƣởng và nhiều nhà giáo dục. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gƣơng sáng ngời về tinh thần TH.
Học giả Đào Duy Anh tác giả nhiều từ điển, nhiều công trình nổi tiếng, giáo sƣ 8 Nguyễn Cảnh Toàn cũng là những tấm gƣơng sáng về TH. Vấn đề TH đã đƣợc nhiều tác giả khác nghiên cứu, đề cập đến một cách trực tiếp hay gián tiếp trong các công trình tâm lí học, giáo dục học hay các PPDH bộ môn. Trong lĩnh vực này có một số công trình tiêu biểu của các nhà nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị, Phan Trọng Luận… Đến nay, nhiều luận văn, luận án đã nghiên cứu để tăng cƣờng NL TH cho HS thông qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập, dạy học theo modun,. nhƣ: Dƣơng Huy Cẩn đã nghiên cứu vấn đề tăng cƣờng NL TH cho sinh viên hóa học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm bằng PP TH có hƣớng dẫn theo mođun.
Tác giả đã đƣa ra biện pháp phát triển NL TH cho sinh viên là vận dụng dạy học bằng PP TH có hƣớng dẫn theo mođun và PPDH vi mô [16]; Phạm Đình Khƣơng đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm phát triển NL TH toán của HS THPT. Tác giả tìm hiểu về NL TH toán, từ đó đề xuất các giải pháp để góp phần phát triển NL TH toán cho HS THPT là: động cơ hóa hoạt động học tập của HS, phát triển các KN, thao tác và hoạt động trí tuệ phù hợp với NL TH toán của HS, rèn luyện những KN học tập cơ bản phù hợp với nhiệm vụ TH môn Toán, tổ chức hoạt động TH hợp lí [42]; Nguyễn Văn Hồng nghiên cứu ứng dụng E-learning trong dạy học môn Toán 12 nhằm phát triển NL TH cho HS THPT. Tác giả đã tìm hiểu và ứng dụng một số yếu tố e-learning, đặc biệt sử dụng khóa học trực tuyến dạng phân nhánh để hỗ trợ TH môn Hình học 12 [37]; Nguyễn Thị Hà nghiên cứu việc rèn luyện cho sinh viên kĩ năng tổ chức HS tự lực nghiên cứu SGK trong dạy học sinh học ở trƣờng THPT. Tác giả đƣa ra quy trình tự đọc SGK nhằm giúp HS tốt các tài liệu tƣơng tự [31];.
Mỗi tác giả trên đã đƣa ra đƣợc một số biện pháp phát triển NL TH cho HS phù hợp môn học đã chọn, nhƣng chƣa tác giả nào lấy cơ sở của việc phát triển NL TH là LTKT. Cách ĐG sự phát triển NL TH của HS cũng chỉ thông qua công cụ là bài kiểm tra. Về vấn đề vận dụng kiến thức vào thực tiễn: Khi nghiên cứu về lịch sử hóa học, Nguyễn Đình Chi cho rằng: “Yếu tố cơ bản và quyết định nhất của sự phát triển hóa học cũng nhƣ mọi khoa học khác là nhu cầu của sản xuất và đời sống xã 9 hội.