phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở thị trấn vôi, huyện Lạng Giang, Bắc Giang Chƣơng 3: Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở Thị Trấn Vôi, huyện Lạng Giang, Bắc Giang. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ 1. Người khuyết tật Quan điểm ngƣời khuyết tật dƣới góc độ y tế đề cập đến tình trạng thể chất của cá nhân có thể làm gây những hạn chế, gây bất lợi trong cuộc sống. Mô hình y tế xem xét khuyết tật dƣới góc độ là một vấn đề khiếm khuyết của con ngƣời do bệnh tật, chấn thƣơng, hoặc các lý do khác, điều này đòi hỏi NKT phải đƣợc duy trì chăm sóc y tế và cung cấp các hình thức điều trị cá nhân để có thể giữ ổn định hoặc cải thiện tình trạng khuyết tật.
Trong hệ thống phân loại quốc tế ICF, WHO định nghĩa khuyết tật nhƣ sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác). Công ƣớc Quốc tế về các quyền của ngƣời khuyết tật- 2006 thì nêu rõ “Người khuyết tật (people with disabilities) bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” Mỗi một quan điểm đều dựa trên những lĩnh vực nghiên cứu riêng, góc độ riêng để định nghĩa ngƣời khuyết tật. Trong nghiên cứu này, dựa trên những tài liệu chuyên ngành, liên ngành và kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động thực tế CTXH, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Ngƣời khuyết tật” theo Luật ngƣời khuyết tật đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010 “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [34]. Hiện nay tại Việt Nam, thuật ngữ “Khuyết tật” đƣợc sử dụng với vai trò là thuật ngữ chính thống và phổ biến khi nói về nhóm đối tƣợng dân cƣ đặc thù này.
Điều này 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không chỉ có tác dụng tích cực với nhóm ngƣời khuyết tật về mặt tinh thần mà còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của xã hội nhằm hƣớng tới những thay đổi mạnh mẽ hơn. Trên Thế Giới có rất nhiều cách phân loại về khuyết tật. Tuy nhiên, việc phân loại khuyết tật ở Việt Nam đã đƣợc cụ thể hóa trong Luật Ngƣời khuyết tật 2010. Theo đó, khuyết tật đƣợc phân loại thành các dạng sau: - Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển - Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói.
- Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nhìn và cảm nhận ánh sáng ,mầu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trƣờng bình thƣờng. - Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thƣờng. - Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tƣ duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tƣợng, giải quyết sự việc. - Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất nhƣng chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trƣờng hợp đƣợc quy định tại các dạng trên.
Về mức độ khuyết tật: Theo điều 3 nghị số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của chính phủ về quy định chi tiết và hƣớng đẫn thi hành một số điều của luật ngƣời khuyết tật có 3 mức độ khuyết tật: Ngƣời khuyết tật đặc biệt nặng, ngƣời khuyết tật nặng và ngƣời khuyết tật nhẹ. Công tác xã hội Công tác xã hội (CTXH) là một ngành khoa học độc lập, có đối tƣợng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu riêng. Sự hình thành và 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển của công tác xã hội là một yếu tố khách quan, vừa thể hiện nhu cầu thiết yếu của nó trong xã hội hiện đại, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế chính trị và văn hóa xã hội. Theo Liên hiệp Công tác xã hội thế giới: “Công tác xã hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp con ngƣời đáp ứng các nhu cầu nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tƣơng tác giữa cá nhân và môi trƣờng, giúp con ngƣời phát huy hết tiềm năng của họ” [34] Đại hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tại Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đƣa ra một định nghĩa mới về Công tác xã hội nhƣ sau: “Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con ngƣời và sự tăng quyền lực, giải phóng ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng tốt đẹp.
Vận dụng lý thuyết về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội can thiệp sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội” [34] * Trong nghiên cứu này công tác xã hội với người khuyết tật được hiểu là các hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ những NKT nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai các hoạt động trợ giúp NKT một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nên tảng sự cộng bằng như những người không khuyết tật trong xã hội. Bảo hiểm y tế BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Ở mỗi quốc gia khác nhau lại có những nhận định khác nhau về BHYT.
Ở các nƣớc công nghiệp phát triển họ cho rằng: BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trạng sức khỏe của người tham gia bảo hiểm. Cũng nhƣ hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật. Đặc điểm khác biệt cơ bản của BHYT so với các loại hình bảo hiểm thƣơng mại là mức đóng góp dựa vào khả năng thu nhập của mỗi nhóm dân cƣ, nhƣng mức thụ hƣởng lại theo nhu cầu điều trị. Khi số ngƣời tham gia BHYT càng đông thì khả năng đáp ứng quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT càng tốt, ngƣợc lại nếu số ngƣời tham gia càng ít thì việc đảm bảo quyền lợi cho ngƣời tham gia cũng bị hạn chế theo do khả năng dàn trải rủi ro trong cộng đồng là không cao.
Nghiệp vụ giám định BHYT là một trong những nghiệp vụ quan trọng của hoạt động BHYT, đây là công tác nhằm đảm bảo quyền lợi cho ngƣời tham gia thông qua hoạt động giám sát chi quỹ khám chữa bệnh Theo quy định tại Luật BHYT số 25/2008/QH do Quốc hội ban hành thì: Giám định BHYT là hoạt động chuyên môn do tổ chức bảo hiểm y tế tiến hành nhằm đánh giá sự hợp lý của việc cung cấp dịch vụ y tế cho người tham gia bảo hiểm y tế, làm cơ sở để thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Vai trò Theo Từ điển Xã hội học (1999), nhà xuất bản Le robert và Seuil, Paris [36]: Vai trò bao gồm vai trò kỳ vọng, vai trò khách quan và vai trò chủ quan. Vai trò kỳ vọng là những mong đợi của người thực hiện vai trò; Vai trò chủ quan là sự đánh giá của người thực hiện vai trò về vai trò của mình; Vai trò khách quan là sự đánh giá của người khác về vai trò của chủ thể thực hiện vai trò [42] 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Trong nghiên cứu này vai trò được hiểu là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội.
Các chuẩn mực này thường không giống nhau trong các loại xã hội.Vì vậy, ở các xã hội khác nhau cùng một vị thế xã hội nhưng mô hình hành vi được xã hội mong đợi rất khác nhau. Công tác xã hội với người khuyết tật Công tác xã hội là một ngành khoa học, một hoạt động nghề nghiệp còn tƣơng đối mới mẻ ở Việt Nam. Vai trò chung của nhân viên công tác xã hội là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm ngƣời có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt đƣợc sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con ngƣời và để nâng cao an sinh xã hội. Để đạt đƣợc các điều này, ngành CTXH phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thƣơng lƣợng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu.