Chương 1 giới thiệu tổng quan đề tài. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, bao gồm khái niệm xúc tiến xuất khẩu; thất bại thị trường, thất bại nhà nước, chu kỳ thất vọng; và đặc biệt làm rõ thất bại thị trường trong xuất khẩu, thất bại nhà nước gắn liền với nguồn cung quan liêu và xác định vai trò tài trợ của nhà nước đối với hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Chương 3 phân tích thực trạng hoạt động giai đoạn 2012-2013 tại Trung tâm nhằm làm rõ những thất bại nhà nước tác động đến cung cấp dịch vụ xúc tiến xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chương 4 xem xét kinh nghiệm trong nước và ngoài nước liên quan đến sửa chữa thất bại nhà nước trong cung cấp dịch vụ xúc tiến xuất khẩu.
Chương 5 kết luận, khuyến nghị giải pháp và nêu các giới hạn của nghiên cứu. 123doc -8- CHƯƠNG 2. Xúc tiến xuất khẩu 2. Xúc tiến xuất khẩu và xúc tiến thương mại Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) thuộc Liên hợp Quốc định nghĩa “xúc tiến thương mại quốc tế của một quốc gia là hoạt động trợ giúp của chính phủ nói chung và các tổ chức XTTM nói riêng nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế”.
Từ định nghĩa này, XTTM quốc tế sẽ bao gồm xúc tiến xuất khẩu (export promotion), xúc tiến nhập khẩu (import promotion) và xúc tiến đầu tư (investment promotion) (Lê Hoàng Oanh, 2014). Bremer và Bell (1993) định nghĩa xúc tiến xuất khẩu bao gồm những dịch vụ hướng trực tiếp đến nhà xuất khẩu hoặc nhà đầu tư, như dịch vụ thông tin (về thị trường nước ngoài), dịch vụ môi giới, hỗ trợ kỹ thuật, bảo hiểm. Nhìn vào cơ cấu nội dung trong Chương trình XTTM Quốc gia của Việt Nam, chúng ta sẽ thấy XTTM bao gồm xúc tiến xuất khẩu, phát triển thị trường trong nước, và miền núi, biên giới, hải đảo, và chưa có xúc tiến nhập khẩu. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của các cơ quan, tổ chức trên không thể tránh khỏi trùng lặp về nội dung, hình thức và đối tượng (Bảng 2.
Vì Việt Nam không tách riêng chức năng xúc tiến xuất khẩu mà gắn trong các tổ chức xúc tiến thương mại nên trong luận văn, cụm từ xúc tiến thương mại trong tên riêng của hệ thống, cơ quan, chương trình được sử dụng với hàm ý xúc tiến xuất khẩu. Hình thức xúc tiến xuất khẩu Theo Ilias và đ. Dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu bao gồm cung 123doc -9- cấp thông tin thương mại, nghiên cứu thị trường, tư vấn doanh nghiệp xuất khẩu, kết nối thông qua tổ chức đoàn giao thương. Hoa Kỳ đầu tư nhiều nghiên cứu khả thi về các quốc gia khác nhằm nhận diện, dự báo các cơ hội xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ.
Bảo hiểm và tài trợ xuất khẩu được triển khai trong các trường hợp (i) chia sẻ rủi ro chính trị, thương mại; (ii) để thỏa yêu cầu của chính sách trợ cấp xuất khẩu dành cho khu vực tư; (iii) đáp trả hành vi trợ cấp tín dụng xuất khẩu của các quốc gia khác. Bảo hộ bao gồm (i) việc Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng công cụ ngoại giao bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trước sự tài trợ, trợ cấp, hỗ trợ không công bằng từ các quốc gia khác; (ii) đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do vùng, song phương, đa phương; (iii) giám sát thực thi, tuân thủ các hiệp định đã ký. Cung cấp thông tin, tư vấn doanh nghiệp, tổ chức đoàn giao thương và đào tạo - tập huấn là bốn hoạt động trợ cấp của nhà nước được chấp nhận rộng rãi theo Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng (ASCM), Hiệp định WTO về Nông nghiệp (AoA). Trong đó, hoạt động cung cấp, tư vấn, chia sẻ thông tin giúp doanh nghiệp xuất khẩu nắm rõ thông tin thị trường, qui định, thủ tục xuất nhập khẩu, góp phần giải quyết vấn đề thông tin không hoàn hảo.
Tổ chức đoàn giao thương bao gồm các hoạt động tổ chức chuyến thăm, giao dịch; tổ chức phái đoàn bán hàng; tổ chức phái đoàn mua hàng; tổ chức chuyến thăm của quan chức cấp cao … Đào tạo - tập huấn có mục tiêu nâng cao năng lực, kỹ năng xuất khẩu cho doanh nghiệp. Cùng với xu thế tự do hóa thương mại, các hình thức tài trợ, bảo hộ trực tiếp doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng bị lên án và trả đũa. Chiến lược xúc tiến xuất khẩu Hoạt động xúc tiến xuất khẩu hướng đến một trong hai mục tiêu là giới thiệu sản phẩm xuất khẩu vào một thị trường mới (xâm nhập thị trường); hoặc mở rộng thị phần của sản phẩm tại thị trường truyền thống (thâm nhập thị trường). Chiến lược thâm nhập thị trường (market expansion/ penetration strategy) triển khai tại thị trường truyền thống và hướng đến dẫn đầu thị phần bằng cách nỗ lực marketing, tăng cường phát triển thị trường, ra mắt sản phẩm, cắt giảm chi phí, giảm giá bán, khác biệt, bắt chước đối thủ dẫn đầu.
Chiến lược xâm nhập thị trường (market entry strategy) triển khai tại thị trường mới, mong muốn nhanh chóng đạt lợi thế về qui mô. 123doc -10- Doanh nghiệp cần đầu tư mở rộng thị trường; tạo lập khách hàng mới, kênh phân phối mới, công dụng mới cho sản phẩm. nên khó khăn và tốn kém hơn chiến lược thâm nhập thị trường. Bù lại, chiến lược xâm nhập thị trường mang lại cho doanh nghiệp lợi thế của người đi trước, cho phép tìm kiếm lợi nhuận cao hơn nhờ có nhiều cơ hội tiếp cận, lựa chọn kênh phân phối, khách hàng tốt nhất; và gây được dấu ấn thương hiệu (Kotler, Berger và Bickhoff, 2010).
Ma trận chiến lược phát triển Ansoff. Xâm nhập thị trường Đa dạng hóa Mở rộng thị trường; tạo lập khách hàng mới, Sản phẩm mới cho thị trường mới kênh phân phối mới, công dụng mới cho sản Mới phẩm. THỊ TRƯỜNG Đạt lợi thế qui mô Bảo vệ vị thế, chia sẻ rủi ro Thâm nhập thị trường Phát triển sản phẩm Truyền thống Tăng cường phát triển thị trường, ra mắt sản Sản phẩm mới, dòng sản phẩm mới, dịch vụ phẩm, cắt giảm chi phí, giảm giá bán, khác mới, giải pháp mới. biệt, bắt chước đối thủ dẫn đầu.
Dẫn đầu thị trường Mở rộng chuỗi giá trị Truyền thống Mới SẢN PHẨM / DỊCH VỤ Nguồn: Kotler, Berger và Bickhoff (2010), hình 11, trang 36. Trong xuất khẩu, chiến lược xâm nhập thị trường cần sử dụng rất nhiều thông tin về thị trường, thị hiếu, qui định, thủ tục…; vì thế, doanh nghiệp rất quan tâm đầu tư, tìm kiếm hỗ trợ trong công tác nghiên cứu thị trường, kết nối tìm kiếm đối tác. Ngược lại trong thâm nhập thị trường, các hoạt động tổ chức sự kiện đóng vai trò chính yếu (Kotler, 2002). Hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo loại hình tổ chức.
Cơ quan xúc tiến xuất khẩu chính phủ Cơ quan xúc tiến xuất khẩu phi chính phủ Cơ quan xúc tiến xuất Cơ quan đại diện thương Cơ quan xúc tiến xuất Phòng thương mại và Hiệp hội doanh nghiệp, khẩu trung ương mại tại nước ngoài khẩu địa phương công nghiệp ngành hàng • Quản lý nhà nước • Hợp tác quốc tế • Quản lý nhà nước (tại • Hợp tác quốc tế • Phòng vệ thương mại3 • Hợp tác quốc tế địa phương) • Hợp tác quốc tế • Xây dựng Chương trình • Hợp tác quốc tế quốc gia 123doc • Nghiên cứu thị trường • Nghiên cứu thị trường • Nghiên cứu thị trường • Nghiên cứu thị trường • Nghiên cứu thị trường • Tư vấn doanh nghiệp • Cung cấp thông tin • Tư vấn doanh nghiệp • Tư vấn doanh nghiệp • Tư vấn doanh nghiệp • Đào tạo, tập huấn • Tư vấn doanh nghiệp • Đào tạo, tập huấn • Đào tạo, tập huấn • Đào tạo, tập huấn • Cung cấp thông tin • Cung cấp thông tin • Cung cấp thông tin • Cung cấp thông tin • Tổ chức đoàn giao • Tổ chức đoàn giao • Tổ chức đoàn giao • Tổ chức đoàn giao • Tổ chức đoàn giao thương thương thương thương thương • Tổ chức sự kiện, hội • Tổ chức sự kiện, hội • Tổ chức sự kiện, hội • Tổ chức sự kiện, hội • Tổ chức sự kiện, hội chợ, triển lãm chợ, triển lãm chợ, triển lãm chợ, triển lãm chợ, triển lãm Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Lê Hoàng Oanh (2014), Quốc hội (2005) và tham khảo chức năng của Trung tâm, AmCham, EuroCham, VASEP, VCCI. 3 Phòng vệ thương mại là hoạt động đặc thù dành cho tổ chức phi chính phủ đại diện doanh nghiệp/ ngành hàng, bao gồm rà soát các cam kết, thỏa thuận quốc tế để hướng dẫn tuân thủ; kịp thời cảnh báo nguy cơ tranh chấp, kiện tụng về bán phá giá, trợ cấp cũng như hỗ trợ giải quyết tranh chấp thương mại… (Lê Hoàng Oanh, 2014) -12- 2. Chu kỳ thất vọng Hành vi của cá nhân và doanh nghiệp trên thị trường không luôn luôn duy lý, tối ưu như giả định; khiến mô hình cạnh tranh hoàn hảo khó hiện thực và thị trường chứa đựng một số khuyết tật (thất bại thị trường) như hàng hóa công, thông tin không hoàn hảo và ngoại tác (Weimer và Vining, 2004; Stiglitz, 2000). Hàng hóa công (public good) là hàng hóa hội đủ hai thuộc tính không tranh giành (non-rival) trong tiêu dùng và không loại trừ (non- exclusive) trong sở hữu, sử dụng.
Một hàng hóa không mang tính tranh giành nếu với một mức sản lượng đã cho, chi phí biên của việc cung cấp hàng hóa này cho một người tiêu dùng bổ sung là bằng không (hoặc không đáng kể); nói cách khác, có thể cung cấp cho mọi người mà không sợ ảnh hưởng đến cơ hội tiêu dùng của bất kỳ ai. Hàng hóa không mang tính loại trừ khi không thể loại trừ, cản trở người khác sở hữu, sử dụng hay tiếp nhận lợi ích của hàng hóa. Thông tin không hoàn hảo (imperfect information) là tình trạng trong một giao dịch, người mua hoặc người bán không có thông tin chính xác về giá thị trường hoặc chất lượng sản phẩm; khi đó hệ thống thị trường sẽ không hoạt động hiệu quả. Ngoại tác (externality) là sự tác động ra bên ngoài của đối tượng này đến lợi ích hay chi phí của đối tượng khác mà không thông qua giao dịch và không được phản ánh qua giá cả.
Trường hợp ngoại tác gián tiếp làm gia tăng lợi ích đối tượng khác được gọi là ngoại tác tích cực. Ngược lại, ngoại tác tiêu cực sẽ gián tiếp làm giảm lợi ích đối tượng khác. Ngoại tác có thể phát sinh giữa những người sản xuất, giữa những người tiêu dùng hoặc giữa cả hai (Pindyck và Rubinfeld, 1995; Mankiw, 2000; Stiglitz, 2000; Weimer và Vining, 2004). Nhằm sửa chữa thất bại thị trường, World Bank (1997) đề xuất ba vai trò nhà nước (Bảng 2.