Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về Hải quan và đầu tư nước ngoài. Chương 2: Thực trạng và vai trò quản lý của Hải quan đối với đầu tư tại tỉnh Binh Duong. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện hoạt động của Hải quan, các kiến nghị nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư tại tỉnh Bình Dương. CHUONG 1 MOT SO VAN DE CO BAN VE HAI QUAN vA DAU TU NUOC NGOAI 1.1 KHAI NIEM VE QUAN LY CUA NGANH HAI QUAN 1.
Khái niệm về Hải quan: Lịch sử phát triển của từ “Hải quan” có nguồn gốc từ từ “Douane” (thu quốc gia) của người Ai Cập ngay từ khi Nhà nước của quốc gia này hình thành. Sau đó, La Mã đã La Tỉnh hoá, rồi Pháp cũng sử dụng từ này. Còn Hy Lạp và Đức gọi là Zull (thu quốc gia), Anh và các nước nói tiếng Anh gọi là “Customs”. “Hải quan” là cụm từ tiếng Việt được kết hợp bởi hai từ, từ “hải” có nghĩa “biển”, từ “quan” có nghĩa là “cửa ải” ở biên giới.
Từ đó Hải quan được định nghĩa “Cửa biên giới một nước ở cạnh biển”. Theo Đại từ điển tiếng Việt “Hải quan” được hiểu là công tác kiểm soát đánh thuế hàng hóa xuất nhập cảnh. Tên gọi Hải quan Việt Nam: Vào thời kỳ thực dân Pháp thi lực lượng Thuế quan (Đoan) đã gây nhiều tộc ác với đồng bào ta do đó bắt cứ thứ gì có liên quan đến nhà “Đoan” của Pháp hay “Thương chính” của Nhật đều gây ra những phản ứng tiêu cực, dễ đàng đưa đến sự bất đồng, chống đối của nhân đân. Do đó việc lựa chọn đặt tên thay thế từ Thuế quan (nhà đoan) khi đó đã có sự cân nhắc thận trọng, kể cả tham khảo ý kiến của các nhà ngôn ngữ, trong đó có ý kiến là nên mượn tên của Trung Quốc vì nền văn hoá, ngôn ngữ của ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, nhiều từ Hán qua quá trình du nhập vào Việt Nam đã được Việt hoá hoặc đọc theo âm Hán - Việt được người Việt Nam dễ dàng chấp nhận.
Đồng chí Lý Ban khi đó là Vụ trưởng Vụ quản lý XNK của Bộ Công Thương là người có thời gian dài hoạt động tại Trung Quốc, là người đầu tiên nghiên cứu về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ của Hải quan Trung Quốc, đồng chí Lý Ban đề nghị nên gọi là “Hải quan”. Đây là tên viết tắt của 4 chữ Hán “Hải ngoại quan thuế”. Như vậy về đối ngoại vẫn hàm chứa đầy đủ nội dung cơ bản nhiệm vụ của cơ quan này, về đối nội tránh được sự phản ứng tiêu cực của nhân dân. Tên gọi “Hải quan” được chính thức xuất hiện lần đầu tiên trong Nghị định số 136/BCT/NĐ/KB ngày 14/12/1954 của Bộ Công thương về việc thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công Thương, từ đó tên gọi “Hải quan” đã được sử dụng cho đến ngày nay.
Theo Luật Hải quan ban hành ngày 29/6/2001, thì Hải quan được hiểu là lĩnh vực hoạt động quản lý Nhà nước là “để góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu kinh tế, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [41, tr. Theo luật Hải quan của Việt Nam tại điều L1 có định nghĩa: "Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về Hải quan đối với họat động xuất nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu" Hải quan được hiểu là một chế độ quản lý Nhà nước, trong đó đối tượng quản lý là hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thé Hai quan. Hải quan là công cụ hành pháp mà bất cứ một Nhà nước có chủ quyền nào cũng đều phải tổ chức ra để bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia trong hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại. Tùy theo từng giai đọan lịch sử, chính trị kinh tế - xã hội mà nhiệm vụ trên có thể được bổ sung sửa đối cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước; Hải quan các nước nhìn chung đều có nhiệm vụ quan trọng là gác cửa quốc gia về kinh tế, hoạt động của Hải quan gắn liền với hoạt động đối ngoại, hoạt động kinh tế đối ngoại và an ninh quốc gia.2 Hoạt động của Hải quan trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và những đặc thù.
Ngày 29/6/2001, Quốc Hội thông qua Luật Hải quan, có hiệu lực từ ngày Hải 01/01/2002, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử gần 60 năm phát triển của ngành về quan, là mốc son chói lợi quyết định sự hoàn thiện các chức năng quản lý nhà nước Hải quan, khẳng định vị trí của Hải quan Việt Nam trong bộ máy công quyền của Nhà nước và vai trò quan trọng trong tiến trình ổn định và phát triển của đất nước. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, song trước yêu cầu của quá trình hội nhập bố quốc tế với khu vực và thế giới, một số nội dung của Luật cần thiết phải sửa đổi, đại sung. Sửa đổi, bễ sung Luật Hải quan là yêu cầu của việc phải nhanh chóng hiện của hóa Hải quan để thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế cũng như đảm bảo hội nhập Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước trong khu vực và thế giới; đòi hỏi phải đổi thủ mới phương thức quản lý theo yêu cầu của quản lý hải quan hiện đại với quy trình tục hải quan chủ yếu được thực hiện bằng hình thức điện tử. Sửa đổi, bố sung Luật Hải trong quan cũng nhằm đáp ứng yêu cầu của việc tiếp tục đây mạnh cải cách hành chính tục hải quan, lĩnh vực Hải quan theo hướng dam bảo minh bạch hơn về hồ sơ, về thủ cường về thông quan hàng hóa, để vừa tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, vừa tăng trách nhiệm của Hải quan trong công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Ngày 14/6/2005 Luật sửa đỗi bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005 ra đời, Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ lực từ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005. Luật có hiệu ngày 1/1/2006. và Họat động thương mai quốc tế ngày càng phát triển có tốc độ nhanh chóng càng mạnh mẽ. Tính chất quốc tế hóa và tòan cầu hóa trong thương mại quốc tế ngày càng có cao.
Chính vì vậy yêu cầu quản lý trong lãnh vực Hải quan cần bảo dam ngày hiệu quả, góp phần thúc đây họat động thương mại phát triển, tăng cường hơn nữa họat quan, động xuất nhập khẩu và các họat động này điều tuân thủ đầy đủ pháp luật về Hải có nhiệm chống buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu quả. Họat động của Hải quan vụ cơ bản là bảo đảm nguôn thu cho ngân sách nhà nước từ nguồn thuế xuất khẩu, thuế mẽ nhập khẩu đồng thời bảo hộ được sản xuất trong nước phát triển và thu hút mạnh của các đầu tư nước ngòai. Để đáp ứng được nhu cầu trên, đòi hỏi họat động hải quan hóa thủ tục nước phải không ngừng được hòan thiện theo hướng đơn giản hóa, hài hòa hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho họat động thương mại phát triển lành mạnh. Hải quan phải hoạt động dưới sức ép thường xuyên từ nhiều phía êm + Tác động từ phía doanh nghiệp:Yêu cầu tăng cường tính minh bạch và hoá xuất chính trong đội ngũ Hải quan; giảm tối đa thời gian làm thủ tục cho hàng nhập khẩu, cho hành khách xuất nhập cánh, yêu cầu tối thiểu số lượng giấy tờ phải nộp, phải xuất trình, thủ tục Hải quan phải rõ ràng, thống nhất, dé thực hiện, thông quan hàng hoá phải nhanh chóng, chính xác.
Yêu cầu giảm các chỉ phí ẳn, những nhiễu quan liêu gây tốn thất cho doanh nghiệp. Áp lực này ngày càng tăng qua từng năm đổi mới và hội nhập, khi thương mại quốc tế tăng trưởng nhanh chóng; thời đại của công nghệ thông tin, giao dịch điện tử.lưu lượng hàng hoá, hành khách tăng hàng năm tuy nhiên số lượng cán bộ Hải quan hau như không được bổ sung, trang thiết bị, phương tiện làm việc phần lớn là thủ công, trình độ công chức còn nhiều bắt cập. + Sức ép từ phía Chính phủ: Nền kinh tế Việt nam đang theo hướng tòan cầu bóa, chúng ta đã hội nhập vào sân chơi quốc tế như tham gia các tổ chức ASEAN, APBC, ASEM và đang gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) (2006). Nhiều Hiệp định song phương về thương mại đã ký kết với EU, Hoa Kỳ; tham gia các hiệp định TRIPS và luật mẫu của Tổ chức Hải quan thế giới.
Nhận thức đúng đắng về việc Hải cải cách hành chính là một bước quan trọng của cải cách hành chính quốc gia. quan là cơ quan đầu tiên mà các tổ chức, cá nhân nước ngòai khi vào Việt Nam phải tiếp xúc đầu tiên, đó là bộ mặt của một quốc gia. Vì lẽ đó Chính phủ rất quan tâm và yêu cầu ngành Hải quan phải quyết tâm phát triển, hiện đại hóa ngành; phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước về Hải quan, phải cải cách hành chính mạnh mế trong lĩnh vực thủ tục Hải quan để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại, thu hút đầu tư, phát triển du lịch, dịch vụ, hợp tác quốc tế; phát triển sản xuất trong nước nhưng đồng thời cũng yêu cầu công tác quản lý phải chặt chế, chính xác, đáp ứng được yêu cầu chống buôn lậu, gian lận thương mại trong tình hình mới, đảm bảo thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; bên cạnh đó thì yêu cầu quan trọng là phải đảm bảo quản lý chặt chẽ công tác thu thuế xuất nhập khẩu vì số thu của Hải quan chiếm tỷ trọng khá cao chiếm gần 30% số thu ngân sách trong khi lộ trình gia nhập ASEAN, AFTA thì thuế suất hàng năm phải cắt giảm, do đó đòi hỏi cơ quan Hải quan phải đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước, đảm bảo số thu năm sau cao hơn năm trước nhưng vẫn tạo thuận lợi cho hàng hoá xuất nhập khẩu.