Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sởkhoa hoc̣ về công tác kiểm tra sau thông quan Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác kiểm tra sau thông quan tại Việt Nam giai đoạn 2009 – 2014 Chương 4: Kết luận về kết quả nghiên cứu, đề xuất một số phương án nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan thời kỳ hội nhập. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ KHOA HOC̣ VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Tổng thuật tài liệu về công tác kiểm tra sau thông quan 1. Nhóm tài liệu về nghiệp vụ hải quan Ngành Hải quan đang trong quá trình hiện đại hóa.
Từ quản lý cơ bản thủ công chuyển sang quản lý hiện đại sẽ là quá trình của hàng loạt sự thay đổi trước, trong và sau thông quan. Nghiệp vụ hải quan liên tục được nghiên cứu trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế kết hợp tình hình thực tế của Việt Nam để hoàn thiện, đạt mục tiêu quản lý Nhà nước thống nhất, tập trung, hiệu quả. Đề án cấp ngành Hải quan của tác giảLê Như Qu ỳnh năm 2007 với tiêu đề“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng và thực tiễn thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam” đa ̃hê ̣thống các chuẩn mưc̣ quốc tếtác đông̣ tới quátrinh̀W xây dưng̣ vàthưc̣ hiêṇ thủtuc̣ hải quan điêṇ tử. Trong đó, đề cập khá chi tiết về quan niệm hải quan điện tử phân biêṭvới hải quan truyền thống , các chuẩn mực , khuyến nghi cụ̉a các tổ chức thương maịthếgiới , Liên hơp̣ quốc , Tổchức hải quan thếgiới đểxây dưng̣ hê ̣thống nghiêp̣ vu ̣hải quan tư ̣đông̣ hóa taịViêṭNam , hướng đến cơ chếmôṭcửa quốc gia.
Trong cuốn “Một số vấn đề về tái cơ cấu quy trình nghiệp vụ hải quan” năm 2012 của nhóm tác giả công tác tại Tổng cục Hải quan đã khái quát chung vềthu tuc̣ hai quan thông qua cac nghiêp̣ vu ̣chinh : thông quan hang ̉ ̉ ́ ́ ̀ hóa, chống buôn lâụ vàgian lâ ̣n thương maị, kiểm tra sau thông quan. Bằng phương pháp liêṭkê , tổng hơp̣ các văn bản quy phaṃ pháp luâṭliên quan đến hải quan , đề tài đã xây dựng khung pháp lý cơ bản về nghiệp vụ hải quan. Mục đích của đề án là nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà Nước về hải 4 quan thông qua việc tái cơ cấu quy trình nghiệp vụ hải quan theo hướng tăng cường vị trí, vai trò nghiệp vụ quản lý trước và sau thông quan. Đề án cấp ngành của tác giả Nguyễn Anh Tài năm 2012 “Hiệp định tạo thuận lợi thương mại trong khuôn khổ WTO và kế hoạch thực hiện của Hải quan Việt Nam” đặt hải quan Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với các tổ chức, liên minh kinh tế thế giới.
Việc thực hiện các cam kết quốc tế nhằm tạo thuận lợi thương mại, mở rộng môi trường đầu tư trong khuôn khổ WTO yêu cầu Hải quan Việt Nam phải xây dựng nhiều kế hoạch, kịch bản có định hướng rõ ràng, có tính ổn định lâu dài. Do đó, đề án đã gợi ý một số thay đổi về nghiệp vụ nhằm tạo thuận lợi hóa thương mại như: lộ trình cắt giảm thuế quan từng mặt hàng trọng điểm, nới lỏng các hàng rào kỹ thuật quá cứng nhắc hay định hướng quy trình kiểm tra Nhà nước về chất lượng đơn giản, hiệu quả,… Chuẩn bị cho mô hình hải quan một cửa quốc gia, các tác giả Phạm Thị Thu Hương năm 2010 với đề tài “Những giải pháp xây dựng chương trình và nội dung đào tạo nghiệp vụ hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa giai đoạn 2011 – 2015”, tác giả Phạm Duyên Phương năm 2012 “Hài hòa và tiêu chuẩn hóa chỉ tiêu thông tin phục vụ xây dựng bộ chứng từ điện tử trong cơ chế hải quan một cửa quốc gia” và tác giả Hoàng Việt Cường năm 2010 “ Xây dưng̣ chiến lươc̣ phát triển ngành hải quan tầm nhìn 2020”, đã đặt hải quan Việt Nam trong lộ trình hiện đại hóa của cả nước nhằm khuyến nghị một số chính sách, giải ̃ pháp mang tính vi mô vàcảcác giải pháp mang tầm vi Smô dành cho chính phủ như tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chuyên ngành , nâng cao chất lương̣ nguồn nhân lưc̣ , cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng công nghiêp̣ hóa, hiêṇ đaịhóa,. Mục tiêu cuối cùng là hướng đến một quy trình nghiệp vụ quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên tham gia thủ tục hải quan đạt hiệu quả về mặt quản lý Nhà nước và tạo thuận lợi thương 5 mại như Việt Nam cam kết tại các hội nghị, diễn đàn, cam kết trong khu vực và trên thế giới. Nhóm tài liệu về nghiệp vụ quản lý rủi ro – công cụ chính của kiểm tra sau thông quan.
Đề án “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực hiễn để ứng dụng quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ hải quan” của Nguyễn Toàn (2005) bước đầu nghiên cứu những nền móng cơ bản của công tác áp dụng quản lý rủi ro. Từ bối cảnh quản lý hải quan hiện đại trên thế giới, nhóm tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê những tác động tích cực mà hải quan các nước phát triển trên thế giới nhận được khi áp dụng chương trình quản lý rủi ro trong ngành hải quan (điển hình: hải quan Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,. Nằm trong xu thế phát triển đó, hải quan Việt Nam nhận thấy sự cần thiết phải áp dụng quản lý rủi ro nhằm hỗ trợ khâu thông quan nhanh và xác định các tiêu chí lựa chọn cho công tác kiểm tra sau thông quan đạt hiệu quả tối ưu. Từ những số liệu thứ cấp, tác giả tổng hợp, đánh giá tính khả thi của việc triển khai công tác quản lý rủi ro sẽ diễn ra trong thời gian tới.
Đồng thời, thông qua việc đề xuất những bước chuẩn bị cần thiết về cơ sở vật chất, nhân lực, kỹ thuật hiện đại,.đã giả định mô hình quản lý rủi ro căn cứ số liệu thống kê hải quan và dự đoán số liệu khi mô hình chính thức được thực hiện. Kết quả cho thấy tính khả thi cao và nghiệp vụ quản lý rủi ro có thể nhân rộng, triển khai đại trà trong thời gian muộn nhất là năm 2007. Trong luận văn “Áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra hải quan ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Minh Hòa (2009), tác giả tổng luận những lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan cùng với các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến 05 nguyên tắc quản lý rủi ro, 05 bước quy trình thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu thương mại dựa trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro. Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hóa các 6 tác động từ các yếu tố nước ngoài (các tổ chức thương mại, tổ chức hải quan thế giới,…) và các yếu tố trong nước (chính sách Nhà nước, đạo đức doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu,…) để đánh giá vai trò của công tác quản lý rủi ro trong quản lý hải quan đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa.
Kết hợp với các thông tin thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo cáo tổng kết công tác năm và phương hướng nhiệm vụ của ngành Hải quan giai đoạn 2006 - 2008. Đây là giai đoạn đầu khi áp dụng quản lý rủi ro vào hải quan và tác giả đã rút ra một số thành tích đạt được của ngành: cải cách thủ tục hải quan ở nước ta hướng tới các chuẩn mực quốc tế, tăng hiệu suất công việc của cơ quan hải quan, tạo được môi trường định hướng, khuyến khích thái độ tuân thủ của doanh nghiệp xuất nhập khẩu,…Bên cạnh đó, một số hạn chế cũng được đưa ra như: bộ tiêu chí còn sơ sài, cán bộ, công chức còn thiếu tính chủ động trong việc cập nhật thông tin, chưa kết hợp được với kiểm tra sau thông quan,…Từ những phân tích đó, tác giả gợi ý một số giải pháp đế áp dụng thành công quản lý rủi ro vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Với luận văn “Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu ở nước ta hiện nay” năm 2010, tác giả Vũ Thị Thanh Nhàn đã trình bày khung khổ lý thuyết cơ bản về rủi ro, nội hàm và ngoại diên của rủi ro. Các bước trong quy trình quản lý rủi ro bao gồm: mô tả rủi ro, đánh giá rủi ro, cuối cùng là thực hiện theo dõi rủi ro và thực hiện điều chỉnh.
Tác giả cũng đưa ra được 03 thuộc tính cơ bản của rủi ro: nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn, cấu thành bởi hai yếu tố: tần suất xuất hiện rủi ro và hậu quả của nó, có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các yếu tố tác động liên quan. Đồng thời đưa ra 02 khái niệm về quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan theo Công ước Kyoto và theo Hải quan EU. Một số bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Braxin, Hàn Quốc về công tác quản lý rủi ro được áp 7 dụng từ năm 1994. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra bức tranh toàn cảnh chương trình quản lý rủi ro được áp dụng đối với hải quan truyền thống (từ năm 2006) và hải quan điện từ (từ năm 2007).
Với phạm vi, nguyên tắc, quy trình quản lý rủi ro được liệt kê theo từng giai đoạn, tiến trình thực hiện gắn liền với công cuộc hiện đại hóa hải quan, tác giả chỉ ra được những kết quả đạt được và những tồn tại (khách quan và chủ quan) trong giai đoạn nghiên cứu 2006 đến 2009. Đặc biệt nhấn mạnh việc Tổng cục Hải quan có công bố Đề án “Nâng cấp hệ thống quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan áp dụng trong giai đoạn 2007-2010” như là một mốc đánh dấu bước phát triển của công tác quản lý rủi ro trong ngành hải quan. Từ những đánh giá kết quả trên, tác giả cũng đề ra một số giải pháp tăng cường quản lý rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả công tác của Hải quan Việt Nam.