Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm tranh tụng và vai trò của tòa án trong tranh tụng 1. Khái niệm tranh tụng Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử nhân loại. Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù thuộc hệ thống luật án lệ (common law), hệ thống luật lục địa (civil law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì hoạt động tố tụng đều có đề cao cơ chế tranh tụng.
Tranh tụng là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “tranh tụng” là “kiện cáo lẫn nhau”. Theo nghĩa Hán Việt, thuật ngữ tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”, và Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau yêu cầu tòa án phân xử.
Để có cơ sở cho tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước tòa án, chứng minh và tranh luận để bảo vệ yêu cầu của mình. Trong một số tài liệu, thông thường người ta thường đề cập đến hệ thống tranh tụng (Adversarial System). Theo từ gốc tranh tụng trong tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Như vậy về bản chất tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà giai đoạn đương đầu tại tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm, là chính.
Tuy nhiên, không nên hiểu một cách giản đơn tranh tụng là tranh 6 luận, tranh cãi giữa hai bên tại phiên tòa, mà hiểu tranh tụng diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài, được cả hai bên tiến hành một cách quyết liệt để “cạnh tranh” nhau để “chống” lại nhau. Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội (công tố) cố gắng để thuyết phục các thành viên Hội đồng xét xử tin rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội thì ngược lại, cố gắng và phải sử dụng mọi biện pháp, lý lẽ, căn cứ để biện bạch, bác bỏ những lời buộc tội do bên công tố đưa ra. Và điều đáng lưu ý là trong hệ thống tố tụng tranh tụng gốc, Luật sư của bị cáo có thể bất chấp thủ đoạn để bảo vệ thân chủ bằng mọi giá. Phiên tòa tranh tụng thật sự là một “chiến trường” theo đúng nghĩa của nó khi mà kết cục phiên tòa, chỉ có một bên giành được phần thắng.
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Cơ chế tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ đại. Ở thời kỳ đó, nguyên cáo và bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào chữa trước tòa án. Sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.
Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định, đến nay đã được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới. Ở Việt nam, về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay. Đặc thù của tố tụng hình sự là các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng cùng nhau xác định sự thật khách quan trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính 7 xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Tất cả các hoạt động kể trên trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. - Theo nghĩa rộng: tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Theo nghĩa hẹp: tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên, để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án thấy rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng Tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ và lời khai không thể bác bỏ để Hội đồng xét xử phán quyết. Khái niệm vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Thuật ngữ “vai trò” có nghĩa là “tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức”. Như vậy, từ các nghiên cứu của mình, chúng tôi mạnh dạn cho rằng, Vai trò của tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là sự thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các phương diện hoạt động cơ bản của Tòa án mà đại diện là Hội đồng xét xử trong mối quan hệ với 8 các chủ thể tham gia tranh tụng khác trong quá trình tranh tụng nhằm đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Các chủ thể của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Tranh tụng tại phiên toà chính là sự đối đáp giữa một bên buộc tội (Kiểm sát viên hoặc người bị hại) và một bên gỡ tội hoặc giữa hai bên có quyền và lợi ích đối lập nhau bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu bằng cách hỏi đáp và tranh luận. Như vậy, có 2 chủ thể chính tham gia trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, gồm: - Bên buộc tội: Đại diện chính là Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm hình sự. Đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, người bị hại hoặc đại diện của người bị hại cũng tham gia buộc tội và tranh luận, đối đáp, hỏi và đưa ra ý kiến hoặc trình bày quan điểm về một vấn đề cụ thể, đồng ý hay phản đối ý kiến của người khác. - Bên gỡ tội: Chủ thể chính là bị cáo hoặc người bào chữa của bị cáo, nhằm trả lời hoặc đưa ra những ý kiến, quan điểm phản bác hoặc tranh luận về quan điểm buộc tội của Kiểm sát viên (Viện kiểm sát) hoặc của bên bị hại.
Đối với Tòa án mà trực tiếp là Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài, điều khiển việc tranh tụng, điều khiển phiên tòa, điều khiển quá trình xét hỏi, tranh luận cũng như quyết định xử lý các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà (chỉ huy tranh tụng), trên cơ sở tranh tụng, tranh luận mà các bên đã đưa ra quan điểm, chứng cứ chứng minh và Tòa án (Hội đồng xét xử) phải đánh giá khách quan toàn diện vụ án tìm ra chân lý và đưa ra kết luận phán quyết đúng sai. Đặc điểm, ý nghĩa và mối quan hệ của tòa án với các chủ thể khác trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ và lời khai không thể bác bỏ để Hội đồng xét xử phán quyết. Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một phần của hoạt động tố tụng tranh tụng trong giải quyết vụ án hình sự. Với những đặc trưng của tố tụng tranh tụng, tranh tụng trong phiên tòa sơ thẩm hình sự có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, tranh tụng trong tố tụng sơ thẩm hình sự luôn tồn tại hai bên có lợi ích đối kháng là bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bị buộc tội (bị cáo/luật sư đại diện quyền lợi cho bị cáo): Trong tranh tụng, Cơ quan công tố và Luật sư hoàn toàn bình đẳng nhau họ được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình.
Cơ quan công tố dưới danh nghĩa là người đại diện cho quyền lợi của nhà nước (thay mặt nhà nước) đưa ra các quan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo. Còn bên bị buộc tội là bị cáo và những Luật sư của họ cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được luật pháp cho phép để phản bác lại. Hai bên sẽ trực tiếp, liên tục chất vấn và trả lời chất vấn nhau công khai tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề. Khác với tố tụng xét hỏi, tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng nguyên tắc bằng miệng, công khai, tất cả các tình tiết, các chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên tòa.