Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng việc khai thác thông tin KH&CN trong việc xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu Chương 3: Nâng cao hiệu quả khai thác thông tin KH&CN trong việc xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu Khi Luật SHTT 2005 ra đời, lần đầu tiên thuật ngữ “nhãn hiệu” đƣợc sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc gia bởi lẽ trƣớc đây “nhãn hiệu hàng hoá” đƣợc hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ.16 Luật SHTT định nghĩa: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Nhƣ vậy, bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mãn điều kiện phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều đƣợc coi là nhãn hiệu. Tính mở và tính khái quát của quy định cho phép các loại dấu hiệu mới có thể đƣợc cấp văn bằng bảo hộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của KH&CN, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu. Nhãn hiệu mang lại tác dụng to lớn đối với cả doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp.
Tác dụng và sự cần thiết của nó càng thể hiện rõ trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Đối với doanh nghiệp, tác dụng của nhãn hiệu thể hiện trên một số các khía cạnh: Thứ nhất, khi bƣớc chân vào kinh doanh, sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ là khi mà doanh nghiệp bƣớc vào giai đoạn chinh phục ngƣời tiêu dùng thông qua chính chất lƣợng sản phẩm/dịch vụ, giá cả và các dịch vụ bổ trợ khác. Việc tạo dựng một nhãn hiệu cũng chính là việc doanh nghiệp tuyên bố về sự có mặt của mình trên thị trƣờng và là cơ sở để phát triển doanh nghiệp. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp: khi đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp đã đặt mình vào vị trí đƣợc bảo vệ trƣớc pháp luật và có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trƣờng.
Thứ ba, tạo điều kiện tiếp cận khách hàng và mở rộng thị trƣờng: nhãn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệu giúp khách hàng nhận biết và có thái độ tin cậy đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, do tin tƣởng vào các nhãn hiệu quen thuộc, uy tín, chất lƣợng hàng hóa/dịch vụ tốt, nhờ đó mà thị trƣờng ngày càng đƣợc mở rộng hơn. Thứ tƣ, là dấu hiệu thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng: đối với những nhãn hiệu uy tín, việc thể hiện nhãn hiệu trên sản phẩm/dịch vụ nhiều khi đƣợc xem là cam kết của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp thƣờng cố gắng để tránh làm tổn thƣơng khách hàng. Thứ năm, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp: một nhãn hiệu uy tín trên thị trƣờng có thể mang lại giá trị lớn cho doanh nghiệp, nó chính là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp đƣợc tạo dựng trong quá trình kinh doanh. Thậm chí đối với những nhãn hiệu nổi tiếng thì giá trị của nhãn hiệu nhiều khi lớn hơn giá trị thực tế của các tài sản cố định khác.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế, nhãn hiệu ngày càng có ý nghĩa và giá trị to lớn bởi khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lƣợng sản phẩm và trách nhiệm của doanh nghiệp. Mặt khác, với quá trình hội nhập, khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn, vì vậy với những sản phẩm có nhãn hiệu đáng tin cậy sẽ là lựa chọn của họ, vì khách hàng có thể khẳng định nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, tạo tâm lý yên tâm, tin cậy, có thể đòi hỏi trách nhiệm của ngƣời cung cấp, giảm chi phí do tránh đƣợc việc sử dụng sản phẩm chất lƣợng kém. Sự cần thiết tạo lập và gìn giữ nhãn hiệu đã đƣợc chứng minh qua nhiều trƣờng hợp trong thực tế: Hai chiếc sơ mi cùng do một doanh nghiệp (công ty An Phƣớc) sản xuất và không có sự khác biệt đáng kể về chất liệu, nhƣng nếu mang nhãn hiệu An Phƣớc thì có giá 218 nghìn đồng/chiếc, còn nếu mang nhãn hiệu Pierre Cardin thì có giá 526 nghìn đồng/chiếc, chiếc áo mang nhãn hiệu “Nhabeco” của công ty may Nhà Bè có giá 150 nghìn đồng/chiếc. Nhƣ vậy với cùng một sản phẩm là áo sơ mi nhƣng ở các nhãn hiệu khác nhau thì 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời mua sẽ phải sử dụng các chi phí khác nhau và tất nhiên chất lƣợng cũng khác nhau.
Bởi vậy uy tín và danh tiếng của một nhãn hiệu có thể nói là nguồn gốc, là cơ sở sản sinh lợi nhuận cho doanh nghiệp. Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu Văn bản pháp luật Việt Nam Hoạt động bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu của Việt Nam đƣợc điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật sau: - Luật SHTT ngày 29.2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT ngày 19.2009; - Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN; - Thông tƣ số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14.2007 của Bộ KH&CN hƣớng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN; Các điều ước Quốc tế + Công ƣớc Paris năm 1883 về bảo hộ SHCN; + Hệ thống Madrid gồm Thỏa ƣớc Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thƣ liên quan đến thỏa ƣớc năm 1989; + Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thƣơng mại của quyền SHTT (TRIPS) năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO); + Ngoài ra, Việt Nam cũng thừa nhận và áp dụng Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu theo Thỏa ƣớc Nice năm 1957 và Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu theo Thỏa ƣớc Vienne năm 1973. Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu phân bổ tất cả các chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanh vào 45 nhóm, bao gồm 34 nhóm hàng hóa 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và 11 nhóm dịch vụ (hiện nay đang áp dụng phiên bản Nice 9). Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu phân bổ tất cả các yếu tố đồ họa của nhãn hiệu thành 29 loại, trong đó có 144 phân loại với 1.
Hai bảng phân loại này luôn đƣợc doanh nghiệp lẫn các cơ quan nhãn hiệu quốc gia tham chiếu và vận dụng để tiến hành tra cứu các nhãn hiệu tƣơng tự hoặc trùng lặp trong các hoạt động liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu. Khái niệm thông tin KH&CN 1. Khái niệm thông tin Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “Thông tin” thƣờng có nghĩa là mọi ý tƣởng, sự kiện hay tác phẩm đƣợc sáng tạo ra. “Thông tin” cũng có thể đƣợc sử dụng để nói đến một yếu tố dữ liệu nào đó, thông tin là một yếu tố có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một ngƣời (những gì mà ngƣời đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tƣợng có thể tạo ra đƣợc sự thay đổi này.
Có những quan niệm đã đồng nhất thông tin và vật mang thông tin. Do khuôn khổ có hạn, Luận văn không bàn chi tiết vào vấn đề này. Thông tin là một vấn đề phức tạp bao chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú vì thế nó đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo nghĩa chung nhất thì thông tin đƣợc hiểu là những tri thức được sử dụng để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống.
Khái niệm thông tin hay tin tức là khái niệm trừu tƣợng, phi vật chất và rất khó đƣợc định nghĩa một cách chính xác. Thông tin là nhận biết của con ngƣời về thế giới xung quanh. Thông tin là một hệ thống những tin tức và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn trong trạng thái của nơi nhận tin. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con ngƣời thƣờng xuyên cần đến thông tin.
Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con ngƣời và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản, chung của nhiều khoa học… Để có thể làm chủ đƣợc thông tin, khai thác và sử dụng nó một cách có hiệu quả, cần 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải chú ý không chỉ nội dung, tính chất, đặc điểm của mỗi thông tin cụ thể mà còn phải thấy đƣợc đằng sau cái cụ thể là cái bản chất chung nhất của thông tin, đó là: "Cái đa dạng đƣợc phản ánh". Nắm vững mặt bản thể luận và mặt nhận thức luận của khái niệm thông tin sẽ cho chúng ta phƣơng pháp luận chung nhất để tiếp cận và xử lý thông tin. Do khuôn khổ có hạn, Luận văn không bàn chi tiết vào vấn đề này. Khái niệm thông tin KH&CN Dƣới góc độ pháp luật, Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN đã nêu rõ: - “Thông tin KH&CN" là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”.
- “Hoạt động thông tin KH&CN" là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin KH&CN; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN”. - "Tài liệu" là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sử dụng. - “Vật mang tin" là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác”.