CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm tới HST RNM và vai trò của nó trong phát triển kinh tế. Nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn tại đồng bằng sông Orinoco của Pannier, F. (1979) đã cho thấy răng Rừng ngập mặn là đại diện cho hệ sinh thái điển hình được tìm thấy doc trên các bờ biển nhiệt đới và cửa sông Orinoco và chúng có tầm quan trọng đặc biệt về mặt sinh học.
Rừng ngập mặn là một bộ lọc dinh dưỡng và tổng hợp các chất hữu cơ, rừng ngập mặn giúp tạo ra một vùng đệm sống giữa biển và đất liền giúp bao vệ cho khu vực đất liền. Sự phát triển của RNM phụ thuộc nhiều vào các chất dinh dưỡng vô cơ mà sông mang lại. Dựa trên mô tả về các đặc điểm sinh ly của Đồng bằng sông Orinoco - nơi đã cho phép phát triển rừng ngập mặn rộng lớn nói riêng, va dựa trên thảo luận về các yếu tô sinh thái quan trọng đối với sự phát triển của RNM nơi cửa sông nói chung nên nghiên cứu đã đưa ra các giải thích cho những xáo trộn mà nhóm nghiên cứu quan sát được trong hệ sinh thái này. Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng những xáo trộn này là do sự phát triển của nông nghiệp và lâm nghiệp trong khu vực.
Và nghiên cứu đưa ra giải pháp đó là cần thiết phải phát triển các chương trình kiểm soát môi trường ở đồng bang dé ngăn chặn sự suy thoái ngày càng lớn của cau trúc và chức năng điều tiết của hệ sinh thái RNM mỏng manh ở đồng bằng [37]. Mohammad Aminur Rahman SHAH va Dilip Kumar DATTA (2010) “A quantitative analysis of mangrove forest resource utilization by the dependent livelihoods”. Bai báo này nghiên cứu về các sản phẩm kinh tế chính, số lượng và mô hình sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn ở Surbardans. Các sản phẩm chính từ rừng ngập mặn bao gồm củi đốt, gỗ, thủy hải sản, dừa, mật ong, sáp,.
Cuộc khảo sát được tiễn hành thực hiện trên 100 hộ gia đình. Trong đó, có khoảng 49% hộ gia đình phải phụ thuộc trực tiếp từ rừng ngập mặn dé hỗ trợ sinh kế ở các mức độ khác nhau, chủ yếu là khai thác củi đốt (74%), cá (78%) và dừa (27%). Có khoảng 50% hộ gia đình phụ thuộc vào rừng ngập mặn có tổng thu nhập từ 75% - 100% từ tài nguyên rừng. Và theo như quan sát thì có khoảng 92% tài nguyên rừng được khai thác được tiêu thụ trực tiếp ở thị trường địa phương.
Rừng ngập mặn Surbardans hỗ trợ tới sinh kế của người dân địa phương, đồng thời thực hiện các chức năng sinh thái. Nghiên cứu sâu hơn về việc sử dụng sản phẩm từ rừng ngập mặn và nhu cau thị trường sẽ cung cấp các phương tiện quản lý bền vững rừng ngập mặn, sẽ tạo điều kiện cho chính sách phát triển bền vững rừng ngập mặn [38]. Abu Nasar Mohammad Abdullah cùng cộng sự (2016) “Economic dependence on mangrove forest resources for livelihoods in the Sundarbans, Bangladesh”. Bài nghiên cứu xem xét tam quan trong của tài nguyên rừng ngập mặn đối với sinh kế của người dân sống bên cạnh dựa trên dữ liệu khảo sát hộ gia đình từ 264 hộ gia đình ở sáu ngôi làng tiếp giáp với Sundarbans, ở khulna, Bangladesh.
dựa trên dữ liệu khảo sát hộ gia đình từ 264 hộ gia đình ở sáu ngôi làng tiếp giáp với Sundarbans, ở Khulna, Bangladesh. Mặc dù các hộ gia đình có thu nhập cao hơn có thu nhập tuyệt đối từ tài nguyên rừng lớn hơn so với các hộ gia đình có thu nhập thấp hơn, nhưng việc bổ sung thu nhập từ rừng vào thu nhập hộ gia đình làm giảm 27% bat bình dang thu nhập được đo lường cho thấy rừng mang lại nguồn thu nhập bình đăng hơn so với hầu hết các nguồn khác trong nghiên cứu các trang web. Do đó, việc giảm thu nhập từ rừng do giảm khả năng tiếp cận tài nguyên rừng sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả sinh kế của người nghèo ở nông thôn và làm tăng chênh lệch giàu nghéo giữa các hộ gia đình gần bìa rừng [39]. R Harini và cộng sự (2019) Economic Valuation of Mangrove Management in Kulon Progo Regency”.
Bài nghiên cứu chỉ ra rằng rừng ngập mặn là loại cây có giá trị sinh thái cao. Rừng ngập mặn có khả năng giữ lũ, chống mài mòn và thậm chí đóng vai trò là nhà máy lưu trữ carbon lớn nhất so với thực vật rừng trên đất liền. Nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét các giá trị kinh tế và sinh thái của rừng ngập mặn. Nghiên cứu được thực hiện băng cách sử dụng khảo sát dữ liệu cơ bản dưới dang dt liệu sơ cấp thu được thông qua phỏng vấn thực địa với người dân địa phương và các bên liên quan trong quản lý rừng ngập mặn.
Dữ liệu nghiên cứu được phân tích mô tả-định lượng và định tính để được trực quan hóa thành các bảng, biểu đô, hình vẽ và ban đồ. Người ta thấy rằng giá trị kinh tế của rừng ngập mặn ở làng angkaran là 1.240 IDR 82% trong số đó là ở dang giá trị sử dụng gián tiếp. Điều này cho thấy rừng ngập mặn có tỷ lệ lợi ích vô hình (giá trị dịch vụ và môi trường) [40]. Anshu Singh và các cộng sự (2017) “Contribution of NTFPs in the Livelihood of Mangrove Forest Dwellers of Sundarban” đã khám phá phạm vi LSNG được thu hai từ Sundarban và đóng góp của nó trong sinh kế của người dân.
Bên cạnh đó, bài báo cũng đánh giá tài sản sinh kế của người dân và bao nhiêu trong số đó được quy cho LSNG. Bai báo còn nghiên cứu tinh dé bị ton thương về sinh kế và căng thắng về sinh kế cơ chế đối phó của người dân địa phương và LSNG đóng vai trò như một “mạng lưới an toàn”. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu khảo sát của 75 hộ gia đình cho thấy đóng góp của LSNG khá cao vì nó đóng góp trung bình gần 79% vào thu nhập hàng năm của của các gia đình thu hái. Kha năng sinh kế dé bị ton thương cao cũng được quan sát thay với rất ít sự giúp đỡ từ chính phủ.
Các cơ quan phát triển của Sundarban cần phải xem xét vai trò của LSNG trong sinh kế và xây dựng Khung sinh kế bền vững phù hợp với quan xã sinh vật cũng như người dân có nhu cầu có thể được duy trì [41]. Tong quan tài liệu trong nước O Việt Nam có không ít công trình nghiên cứu về vai trò của rừng ngập mặn đến sự phát triển kinh tế của người dân quanh khu vực rừng ngập mặn. Nghiên cứu “Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ” do Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (RIFEE) thực hiện năm 2022 nhằm hỗ trợ Ban quản lý Rừng phòng hộ Cần Giờ trong việc nhận diện các dịch vụ hệ sinh thái điển hình và quan trọng về mặt kinh tế. Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp lượng giá khác nhau đề lượng giá các giá trị sử dụng trực tiếp (gỗ, CỦI, nguồn lợi thủy sản, dược liệu, v.), giá trị sử dụng gián tiếp (hấp thụ carbon, điều hoà khí hậu, giảm thiêu thiệt hại do thiên tai gây ra, v.v) va giá trị phi sử dụng (giá trị tồn tại).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng giá trị kinh tế của các hang hóa, dịch vụ quan trọng của rừng ngập mặn Cần Giờ lên tới 3.881 tỷ đồng/năm, trong đó giá trị sử dụng trực tiếp (gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, nguồn lợi thủy sản, muối, du lịch, v. Tính trung bình, mỗi ha rừng ngập mặn Cần Giờ có thể cung cấp một lượng hàng hóa và dịch vụ lên tới 111,8 triệu đồng/năm tại thời điểm nghiên cứu năm 2020 [1] Nghiên cứu về chức năng và dịch vụ của rừng ngập mặn trồng tại xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, tác giả Nguyễn Thị Kim Cúc, Đỗ Văn Chính (2014) đã đưa ra kết luận về ba ưu điểm của rừng ngập mặn:” Một là, rừng ngập mặn có khả năng bảo vệ đê biển, cộng đồng dân cư ven biển và tài sản năm bên ngoài đê, ví dụ như thuyền bè và đầm tôm. Hai là, rừng ngập mặn mang đến những lợi ích kinh tế trực tiếp, đặc biệt đối với những hộ gia đình nghèo trong xã là những người thường sống dựa vào rừng ngập mặn. Ba là, có thể khăng định tương tự đối với chức năng tích lũy carbon của rừng ngập mặn” [2| Lê Xuân Tuấn và cộng sự (2019) “Valuation of Biodiversity, Landscape Conservation Value of the Magrove Ecosystem in Can Gio District, Ho Chi Minh City”.
Bài nghiên cứu đã nói về việc quy hoạch sử dụng hệ sinh thái đất ngập nước nói chung và hệ sinh thái rừng ngập mặn nói riêng thường được xác định dựa trên các giá tri sử dụng trực tiếp của các hệ sinh thái như thủy sản, gỗ, gỗ hơn là các giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng. Tuy nhiên, các quyết định về việc sử dụng các nguồn lực nên xem xét các chi phí khác như như chi phí cơ hội và sự sẵn sàng bảo tồn đa dạng sinh học dé các biện pháp bảo tồn có thê được phát triển cho sự phát triển bền vững. Từ góc độ kinh tế môi trường, giá trị phi sử dụng có thể được hiểu là nhận thức và sự hài lòng của xã hội về việc bảo tồn đa dạng sinh học ở một mức độ nhất định và mức độ sẵn sang chi trả của xã hội cho điều đó. Bài viết này trình bày nghiên cứu đánh giá giá tri phi sử dụng của Khu dự trữ sinh quyên rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các kết quả cho thấy giá trị phi sử dụng của khu vực nghiên cứu khoảng 105 tỷ đồng/năm. Bài viết cũng đưa ra những khuyến nghị đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách và nghiên cứu trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng [3] Lê Dinh Hải và cộng sự (2020) “The contribution of non-timber forest products to the livelihoods of forest-dependent people: a case study in Hoa Binh province, Vietnam”. Bai nghiên cứu thực hiện phỏng van với 100 hộ gia đình tại 3 thôn thuộc xã Trường Sơn, huyện Lương Sơn, Hòa Bình, Việt Nam với các loại phân loại giàu nghèo hộ gia đình khác nhau. Phương pháp chi phí cơ hội gián tiếp (IOC) được áp dụng dé ước tính gián tiếp giá trị kinh tế của việc khai thác LSNG của các hộ gia đình.