phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG VĂN HÓA NÔNG THÔN 1. Giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm giai cấp nông dân Giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ.
Sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Do đó, giai cấp nông dân giữ một vai trò quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đặc biệt, ở nhiều quốc gia, khi công nghiệp và đô thị chưa phát triển, vai trò của nông dân được quan tâm đặc biệt. Ở xã hội phương Đông, nông dân là giai cấp đóng vai trò quan trọng nhất (hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ).
Ở phương Tây, giai cấp nông dân dưới con mắt của những nhà lý luận thuộc phái trọng nông được đánh giá cao. Tuy nhiên, nhìn chung, trước Mác, trong con mắt của nhiều nhà tư tưởng thuộc giai cấp thống trị, giai cấp nông dân chỉ là công cụ để sai khiến và bóc lột. Chỉ đến khi học thuyết Mác được hình thành, bổ sung và phát triển bằng chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì quan điểm khoa học về nông dân mới được hình thành và phát triển. Theo William Rosberring, nhà nghiên cứu xã hội học Mỹ “ Nông dân được coi là những người sản xuất lương thực cho bản thân và cho các nhóm xã hội khác có địa vị cao hơn” [14; tr 30].
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, nông dân là “ người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [38; tr 1283]. Như vậy có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư lao động gắn liền với sản xuất nông nghiệp, có thu nhập chính từ lao động nông nghiệp. Xét về bản chất xã hội và địa vị của giai cấp nông dân thì nông dân vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người sở hữu. Trong học thuyết của mình, trên cơ sở nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, C.Ăngghen đã tập trung chú ý nhiều tới vấn đề các bạn đồng minh của giai cấp công nhân, đặc biệt là giai cấp nông dân.Mác cho rằng, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Nông dân là giai cấp những người tiểu nông” [ 19; tr 263].
“Tiểu nông là một khối quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau, nhưng lại không nằm trong những mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau” [ 19; tr 264]. Lênin cho rằng, những tầng lớp lao động ở nông thôn bao gồm giai cấp vô sản nông nghiệp, những người nửa vô sản hay những người nông dân có ít ruộng, tầng lớp tiểu nông và trung nông gộp lại với nhau cấu thành những tầng lớp khác nhau của nông dân. Ông khẳng định: “Lực lượng thứ hai – tức là lực lượng đứng giữa tư bản phát triển và giai cấp vô sản.
Đó là giai cấp tiểu tư sản, những người tiểu sở hữu; đó là những phần tử hợp thành tuyệt đại đa số dân cư ở nước ta, tức là giai cấp nông dân” [15; tr 160]. Qua các luận điểm của Mác, Ăngghen, Lênin có thể khái quát giai cấp nông dân như sau: Một là, giai cấp nông dân là những người tư hữu nhỏ. Họ là những người chủ sở hữu nhỏ về đất đai, nông cụ và do đó có kinh tế độc lập. Họ có sở hữu tư liệu sản xuất hoặc đủ hoặc không đủ nuôi sống gia đình họ.
Hai là, giai cấp nông dân không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến. Phương thức lao động của họ là phân tán, tách biệt, riêng lẻ, kỹ thuật lạc hậu, mang tính tự cấp, tự túc, manh mún. Ba là, nông dân sản xuất ra lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu của xã hội, sản xuất ra công cụ lao động phục vụ sản xuất nông nghiệp. Bốn là, nông dân là những người sinh sống ở các vùng nông thôn.
Các văn kiện của Đảng ta tuy không nói đến khái niệm nông dân nhưng qua các quan điểm về nông dân gắn với nông nghiệp, nông thôn có thể khái quát quan điểm của Đảng về nông dân như sau: “Nông dân là khái niệm chỉ về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội, phân biệt với công nhân, trí thức… Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị) [ 4; tr 112]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gần đây có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân một cách phù hợp hơn, như : “ Nông dân được coi là những người nuôi mình với tư cách là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống trong những làng mạc nhỏ bé” [ 2; tr 7 ], hoặc “ Nông dân ở nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [ 3; tr 8 ]. Tóm lại, nông dân ở nước ta hiểu theo nghĩa hẹp là những người sống bằng nghề làm ruộng, sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, sản phẩm của họ là lương thực, thực phẩm và tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là ruộng đất. Theo nghĩa rộng, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất nhỏ trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp), nghề nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp, trực tiếp canh tác để tạo ra nông sản bằng việc sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù gắn bó với tự nhiên là đất, rừng biển để sản xuất ra sản phẩm nông – lâm ngư nghiệp.
Sự biến đổi của giai cấp nông dân Việt Nam Có thể thấy, sự tác động tích cực của nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa, hội nhập quốc tế, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã làm cho giai cấp nông dân Việt Nam có sự biến đổi lớn như sau: Một là, tỷ lệ nông dân trong dân số ngày một giảm Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đã thúc đẩy nhu cầu lấy đất nông nghiệp để làm khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị, vì thế những nông dân bị mất đất buộc phải chuyển sang làm nghề mới như buôn bán, làm công nghiệp, mở doanh nghiệp nông dân… Đồng thời, động lực lợi ích trong nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn. Việc giảm tỷ lệ nông dân đã tạo ra cơ hội thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu xã hội trong xã hội nông thôn, đã góp phần phát triển nguồn nhân lực của các lĩnh vực khác. Hai là, vai trò chủ thể kinh tế và chính trị của người nông dân nước ta đã và đang có sự biến đổi mạnh mẽ. Sự tác động tích cực của nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa, hội nhập quốc tế nhất là của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nông nghiệp – nông thôn – nông 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân đã làm cho vị thế và vai trò chủ thể kinh tế, chính trị của người nông dân biến đổi mạnh mẽ.
Lúc này, tác động của yếu tố khoa học công nghệ hiện đại trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của yếu tố động lực lợi ích trong nền kinh tế thị trường và của sự cạnh tranh gay gắt trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế đến người nông dân đã làm cho họ trở thành một chủ thể kinh tế độc lập đích thực trong cuộc sống và mọi hoạt động của mình. Đồng thời, sự tác động tích cực của nhân tố trên cũng đã giúp người nông dân thời kỳ đổi mới trở thành chủ thể chính trị thực sự, mà trước hết là bắt đầu từ chính hộ gia đình, trang trại doanh nghiệp của mình. Ba là, sự hình thành những chủ thể sản xuất kinh doanh trong kinh tế hộ nông dân và trong các hợp tác xã kiểu mới. Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân đã và đang tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của từng hộ, tạo ra một thị trường hàng hóa phong phú và dồi dào.
Trong quá trình chuyển sang kinh tế hộ, nhiều hộ có vốn, có kinh nghiệm sản xuất đã năng động, mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao. Quá trình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp ở nông thôn đã phát sinh nhu cầu phải liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân để thực hiện nhiều khâu, nhiều công đoạn, nhiều dịch vụ mà từng hộ nông dân không làm được, hoặc làm không tốt. Từ đó nhiều hợp tác xã kiểu mới, trên cơ sở tự nguyện hoàn toàn của nông dân đã xuất hiện. Sản xuất ở nông thôn một khi càng được chuyên môn hóa, càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng và trở thành nhu cầu của các hộ nông dân.
Lợi ích của hợp tác xã và từng hộ xã viên gắn chặt với nhau nên trong sản xuất, hộ nông dân cá thể hay hộ xã viên của hợp tác xã mạnh dạn đầu tư khoa học – kỹ thuật, vốn vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Hơn nữa với sự nhạy bén, am hiểu thị trường, biết định hướng kinh doanh, nên thu nhập của họ ngày càng cao. Ở nông thôn đã xuất hiện những chủ thể sản xuất, kinh doanh giỏi. Đây là điểm sáng động viên và kích thích những hộ nông dân làm ăn yếu kém, là những nhân tố mới trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn nhằm cung cấp nông sản hàng hóa có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Sự hình thành những chủ thể sản xuất, kinh doanh giỏi trong kinh tế hộ và trong các hợp tác xã là bước phát triển mới do quá trình đổi mới đem lại.