Chương 1 LỆ LÀNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỆ LÀNG VỚI LUẬT NƢỚC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 1. LỆ LÀNG TRONG LÀNG XÃ CỔ TRUYỀN 1. Làng xã Việt Nam trong quá trình lịch sử Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, dân cƣ sống ở nông thôn chiếm khoảng 80%, khi tìm hiểu về xã hội nông thôn ở nƣớc ta thƣờng bắt gặp các từ thôn, làng, xã trong văn nói cũng nhƣ văn viết của ngƣời nông dân. Suốt nhiều thế kỷ qua, làng là đơn vị cƣ tụ cổ truyền lâu đời ở nông thôn ngƣời Việt và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nƣớc.
Từ thời Hùng Vƣơng, làng đƣợc gọi là chạ. Đơn vị này có thể đƣợc coi tƣơng đƣơng với sóc của ngƣời Khơ Me; bản, mƣờng của ngƣời dân tộc thiểu số phía Bắc. Làng là cộng đồng dân cƣ, cộng đồng "lãnh thổ", cơ cấu tổ chức, tâm lý, phong tục tập quán tín ngƣỡng và "thổ ngữ" riêng. Còn xã chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nƣớc phong kiến ở vùng nông thôn.
Trƣớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần nhiều mỗi làng là một xã. Do vậy, ngƣời nông dân thƣờng ghép hai từ này làm một: làng xã. Thôn thƣờng đƣợc dùng trong văn bản giấy tờ hành chính, trong văn tế. Một xã mà gồm nhiều làng thì các làng họp thành xã ấy đƣợc gọi là thôn.
Còn trong ngôn ngữ của ngƣời nông dân, mỗi ngƣời khi nói về quê hƣơng, nơi mình sinh sống vẫn thƣờng nói làng này, làng kia hơn là xã này, thôn nọ. Từ “làng” in đậm dấu ấn trong ý nghĩ tình cảm, ngôn ngữ thƣờng ngày của ngƣời nông dân hơn là xã, thôn. Làng Việt tồn tại trên cơ sở sự kết hợp trực tiếp giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp. Những di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đồng: Đồng Đậu, Gò Mun ở Vĩnh Lạc và Phong Châu Vĩnh Phú đã thấy sự tập hợp cƣ dân nhƣ 7 z những làng cổ.
Với truyền thuyết Thánh Gióng - ngƣời con trai làng Gióng, ngƣời anh hùng phá giặc Ân - thì các làng của ngƣời Việt đã định hình trƣớc thời Bắc thuộc. Theo các nhà sử học cho đến thế kỷ XVIII trên đất nƣớc ta đã có đến gần 2 vạn làng đƣợc hình thành từ ba nguồn: Thứ nhất, từ công xã nguyên thủy, loại làng này không phải là ít vì sự phát triển của xã hội Việt Nam không tạo ra một giai đoạn phá vỡ hoàn toàn các công xã nguyên thủy, để rồi đến một lúc khác thành lập lại trên cơ sở một xã hội mới. Thứ hai, các làng xã khác hình thành trong xã hội có giai cấp theo nhiều con đƣờng: do một họ, nhiều họ, một điền trang của quan lại phong kiến hoặc có nguồn gốc từ đồn điền của nhà nƣớc. Thứ ba, làng do nhà nƣớc chủ trì khai hoang lập nên [31].
Do điều kiện tự nhiên đất đai màu mỡ, dân số chƣa đông, ngƣời Việt có thể khai khẩn bất cứ nơi nào thuận tiện xung quanh đủ ruộng cấy lúa và nơi cƣ trú là thành làng. Cƣ trú thành làng là một đặc trƣng kinh tế, chính trị, văn hóa của ngƣời Việt. Là một đơn vị quần cƣ, mỗi làng đƣợc xác định bởi một không gian bằng những đƣờng ranh giới giữa làng này với làng khác, giữa đất làng với đất không phải của làng. Đất đai của làng tạo nên bởi những ranh giới do các thế hệ ngƣời làng lập nên.
Nó vừa là của chung, của làng vừa là của riêng mỗi gia đình. Ruộng đất đó dân làng cày cấy nuôi sống mình và đóng góp một phần cho nhà nƣớc. Ngoài phần đất canh tác, mỗi làng thƣờng giành một phần làm nơi cƣ trú thuận lợi cho hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, giao thông. và đƣợc gọi là làng.
Nơi cƣ trú ấy của cộng đồng làng thƣờng đƣợc bao bọc bởi lũy tre, trong đó đƣợc chia thành xóm ngõ. Trong cái không gian bé nhỏ đó, có đƣờng làng ngõ xóm để mọi ngƣời dùng chung, có giếng làng để mọi ngƣời lấy nƣớc sinh hoạt, có đình làng vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi hội họp. Không gian kinh tế - xã hội, văn hóa thiêng liêng ấy là yếu tố gắn kết mọi ngƣời chung một làng. 8 z Qua hàng ngàn năm, do điều kiện đặc thù của lịch sử quy định, làng Việt Nam tồn tại nhƣ những đơn vị độc lập tƣơng đối.
Tính độc lập và khép kín đƣợc xác định bởi những lũy tre xanh bao bọc nhƣ những tƣờng thành ngăn cách và bằng cả một hệ thống thiết chế, tập tục của từng làng. Về mặt kinh tế, đó là những thể thức phân chia và sử dụng công điền, công thổ, sử dụng nguồn nƣớc của làng. Về mặt chính trị - xã hội mỗi làng đều có những quy ƣớc quy định các vị trí đẳng cấp xã hội, cả quyền lợi và nghĩa vụ, là sự tồn tại và thực hiện chức năng xã hội của các hội, các phƣờng đƣợc thiết lập trong làng. Về mặt văn hóa, đó là các hình thức hội hè, tập tục, lễ cƣới, lễ tang, lễ khao vọng.
và gắn với văn hóa tôn giáo, là tín ngƣỡng thành hoàng. Bên cạnh những khác biệt trên, làng Việt nào cũng có đủ tất cả: ruộng công, ruộng tƣ, đình chùa, hội hè, đình đám, có phƣờng hội, có chính quyền quản lý và đó cũng là điểm giống nhau của tất cả các làng. Làng là đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp, có thể thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con ngƣời: hầu hết các làng đều có một vài hộ làm nghề rèn, dăm ba hộ làm thợ mộc, thợ nề, một số hộ buôn bán tạp hóa ở chợ làng, một vài ông đồ dạy học, ông lang bốc thuốc. "Làng có nông, làng cũng có sĩ, công, thương" [31].
Sự giống nhau đó đảm bảo cho các làng có tính độc lập, tƣơng đối ít phụ thuộc vào nhau.Mác từng nhận xét: Cái cơ cấu sản xuất đơn giản của các cộng đồng tự cung tự cấp ấy, - những cộng đồng không ngừng đƣợc tái sản xuất ra dƣới cùng một hình thức ấy và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thì cũng lại xuất hiện trên địa điểm cũ với một tên cũ - cái cơ cấu ấy cho chúng ta cái chìa khóa để hiểu đƣợc sự bí ẩn của tính chất bất di bất dịch của những xã hội châu Á, nó trái ngƣợc một cách lạ thƣờng với hiện tƣợng các nhà nƣớc châu Á không ngừng bị phá hủy rồi lại đƣợc lập lại, với những sự biến đổi không ngừng của 9 z các triều vua. Kết cấu của các yếu tố kinh tế cơ bản của xã hội vẫn không bị những cơn dông tố của lĩnh vực chính trị đầy mây ảnh hƣởng tới [2].Mác còn chú thích thêm: Dƣới hình thức đơn giản ấy. những ngƣời dân các nƣớc đó đã sống từ thời thƣợng cổ đến nay. Ranh giới giữa các làng mạc ít khi bị thay đổi.
Và mặc dù bản thân những làng mạc đó đôi khi bị thiệt hại, hay thậm chí còn bị tàn phá vì chiến tranh, nạn đói, bệnh dịch, nhƣng cũng cái tên ấy, những ranh giới ấy, với những lợi ích ấy, thậm chí với cả gia tộc ấy vẫn cứ tiếp tục tồn tại hàng thế kỷ. Sự sụp đổ hay sự phân biệt của các vƣơng quốc chẳng hề làm cho họ lo lắng; trong khi làng xóm vẫn còn nguyên vẹn, thì dù nó nằm dƣới quyền lực của ai hay đƣợc chuyển cho một ông vua nào, điều đó đối với họ cũng không quan trọng lắm, nền kinh tế nội bộ của họ vẫn không thay đổi [2]. Chính cơ cấu kinh tế - xã hội khép kín ấy là cơ sở hình thành ý thức ngƣời nông dân làng xã Việt Nam, ý thức cộng đồng - cái cá nhân dƣờng nhƣ bị tan ra, bị hòa vào cộng đồng. Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích cộng đồng, danh dự của ngƣời nông dân gắn với danh dự của làng xã - họ không chỉ sống cho mình mà sống cho làng xã.
Ngƣời nông dân chấp nhận những quy tắc ứng xử, nếp sinh hoạt, quan hệ cộng đồng làng xã nhƣ một lẽ tự nhiên. Quan hệ làng xã ấy, vừa có mặt trì trệ bảo thủ của nó, nhƣng chính nó lại là nơi thể hiện khá rõ quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời nông dân mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là "dân chủ làng xã". Quan hệ ấy cũng là những bức tƣờng thành kiên cố vững chắc nhất bảo tồn văn hóa làng, cũng là bản sắc văn hóa dân tộc đã chiến thắng mọi yếu tố tiêu cực của luồng văn hóa từ bên ngoài. Sự hình thành "lệ làng" và những nội dung cơ bản của nó Tập thể cƣ dân trong mỗi cộng đồng sinh sống lâu dài trong một địa bàn, có những mối liên hệ với nhau trong đời sống sản xuất và xã hội, trong cuộc đấu tranh thƣờng nhật với thiên tai và địch họa, đều muốn xây dựng những mối quan hệ ổn định, hòa thuận, một lối sống có kỷ cƣơng, trật tự.
Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có những quy ƣớc, những thỏa thuận ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cá thể với cộng đồng làng xã. Đó cũng là một trong những biểu hiện tiêu biểu tính tự quản của mỗi cộng đồng dân cƣ mỗi làng. Mỗi làng đều có quy ƣớc riêng để các thành viên của mình thực hiện đƣợc gọi là "lệ làng". Lệ làng là toàn bộ những quy định, lề lối, phép tắc, những phong tục tập quán đƣợc hình thành trong các hoạt động của dân làng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa tín ngƣỡng của từng làng.
Lệ làng quy định điều chỉnh hành vi, ứng xử của con ngƣời trong các hoạt động đó. Trƣớc Cách mạng tháng Tám, ở các làng xã ngƣời Việt đều có những lệ làng thành văn với những tên gọi riêng, tùy theo cách ghi chép của ngƣời soạn thảo: Hƣơng ƣớc, Hƣơng biên, Hƣơng lệ. Nhƣng dù gọi tên gì chăng nữa thì những văn bản đó đều bao gồm những quy ƣớc liên quan đến các lĩnh vực đời sống của từng làng, từng cộng đồng dân cƣ mà ngƣời ta quen gọi bằng tên phổ biến nhất – Hương ước. Quá trình phát triển của làng xã làm cho cƣ dân đông đúc dần, các mối quan hệ và thiết chế xã hội lần lƣợt ra đời và tăng lên để quản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống.
Đó là tiền đề để làm phong phú các quy ƣớc nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng.