Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tiêu đề "Tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Đào Huy Toàn thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lại Quốc Khánh và TS. Tống Đức Thảo. Luận án được bảo vệ năm 2017 thuộc chuyên ngành Chính trị học (mã số: 62 31 02 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong đời sống chính trị hiện đại và sự vận hành của thể chế chính trị pháp quyền, tính tích cực chính trị của công dân là nhân tố tác động trực tiếp đến tiến trình dân chủ hóa. Tại Việt Nam, giai cấp nông dân chiếm gần 70% dân số và trên 44% lực lượng lao động xã hội, giữ vị trí then chốt trong lịch sử dựng nước, giữ nước và sự nghiệp đổi mới. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (như Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, Văn kiện Đại hội XII xác định nông dân giữ vai trò chủ thể), thực tiễn đời sống nông dân vẫn tồn tại nhiều khó khăn: sản xuất chủ yếu quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp, thị trường tiêu thụ bấp bênh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi lớn, chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn gia tăng. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước dù giảm dần (năm 2010 là 14,2%; năm 2012 là 9,6%; năm 2015 là 4,5%) nhưng vẫn tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn; trình độ dân trí không đồng đều, thiếu hiểu biết pháp luật, thậm chí phát sinh tình trạng nông dân xuất cảnh lao động trái phép. Nguyên nhân căn bản xuất phát từ việc tính tích cực chính trị của nông dân chưa được nhận thức và phát huy tương xứng, có nơi bị lợi dụng hoặc biến dạng.

Vùng duyên hải Bắc Bộ (theo Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ) gồm 5 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Vùng có diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km², dân số gần 8 triệu người, trong đó cư dân nông thôn trên 5 triệu người. Đây là địa bàn có vị trí địa chiến lược trọng yếu: cửa ngõ ra biển của miền Bắc, có trên 118 km đường biên giới trên bộ và trên 600 km bờ biển giáp Trung Quốc, đóng vai trò đầu mối giao thương với ASEAN và vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ. Mặc dù nông dân trong vùng đạt nhiều kết quả trong xây dựng nông thôn mới, song việc tham gia vào các quá trình chính trị còn hạn chế, nhận thức chưa theo kịp tiến trình hội nhập quốc tế. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: các công trình khoa học trước đó chưa có nghiên cứu chuyên sâu cả về lý thuyết lẫn thực tiễn sử dụng trực tiếp khái niệm khoa học "tính tích cực chính trị của nông dân", dẫn đến việc thiếu cơ sở khoa học để hoạch định các giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị cho lực lượng này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ và vận dụng cơ sở lý luận về tính tích cực chính trị của nông dân để khảo sát thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân khu vực này trong thời gian tới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng khái niệm tính tích cực chính trị của nông dân; làm rõ đặc điểm, vai trò, hình thức thể hiện tính tích cực chính trị của nông dân.
    2. Xác định cơ sở hình thành tính tích cực chính trị của nông dân, lấy đó làm cơ sở phân tích nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay.
    3. Xây dựng tiêu chí cơ bản để đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân.
    4. Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân trong đời sống chính trị vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam.
    5. Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Tính tích cực chính trị của nông dân hiện nay. Khi đi vào khảo sát thực tiễn, luận án giới hạn tập trung vào hai hoạt động căn bản: hoạt động bầu cử và việc thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới.
  • Phạm vi không gian: 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ gồm Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng tại thời điểm thực hiện luận án (giai đoạn 2015 - 2016); các giải pháp được xác định trong tầm nhìn đến năm 2020.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 4 giả thuyết khoa học:

  1. Tính tích cực chính trị của nông dân giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị; nếu xác lập được một khung lý thuyết phù hợp, làm rõ khái niệm và tiêu chí đánh giá thì sẽ nhận thức đúng bản chất tính tích cực chính trị của nông dân nói chung và nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ nói riêng.
  2. Mặc dù hệ thống chính trị đã ban hành nhiều chủ trương và bản thân người nông dân đã quan tâm đến đời sống chính trị, nhưng trên thực tế tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ hiện nay vẫn chưa được nâng cao tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới và còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.
  3. Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước; việc nghiên cứu tính tích cực chính trị của giai cấp nông dân nhằm lý giải vị trí nền tảng của giai cấp này trong liên minh giai cấp ở Việt Nam hiện nay.
  4. Việc nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống giải pháp toàn diện; việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ phát huy vai trò của nông dân trong đời sống chính trị quốc gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết về tính tích cực chính trị

Ở trong nước, tác giả Chu Khắc (1987) trong nghiên cứu "Tính tích cực chính trị - xã hội trong lối sống xã hội chủ nghĩa" đã luận giải sự tham gia tự giác của nhân dân vào quản lý xã hội, xem đó là đặc trưng của con người mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân tích các yếu tố tác động như sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng và giáo dục tập thể lao động. Đáng chú ý, luận án tiến sĩ và cuốn sách chuyên khảo "Tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay" của TS. Nguyễn Thị Kim Hoa đã xây dựng khung lý thuyết tổng thể, xác định bản chất của tính tích cực chính trị là sự tự giác, chủ động, sáng tạo khi tham gia vào quá trình chính trị nhằm mục tiêu tiến bộ; công trình đề xuất 4 nhóm giải pháp về dân chủ hóa, nâng cao văn hóa chính trị, khuyến khích lợi ích và thu hút nhân tài.

Ở bình diện quốc tế và các tổ chức phát triển, Báo cáo của Tổ chức Oxfam tại Việt Nam ("Vun trồng một tương lai no đủ") và Báo cáo của Ngân hàng Thế giới ("Việt Nam 2035 - Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ") tiếp cận vấn đề qua lăng kính quyền đại diện, tiếng nói của nông dân sản xuất quy mô nhỏ, cơ chế đối thoại cộng đồng và việc tham gia bầu cử trưởng thôn bản gắn liền với trách nhiệm giải trình của chính quyền. Trong lý luận chính trị học phương Tây, Alexis de Tocqueville ("Nền dân trị Mỹ") khẳng định sự tham gia của công dân vào quyền lực công và hoạt động của các nhóm lợi ích, hội đoàn là phương thức duy trì nền dân chủ; G. Verba và G. Almond khi phân tích văn hóa chính trị đã phân chia 3 loại hình: văn hóa chính trị bộ lạc, văn hóa chính trị phụ thuộc và văn hóa chính trị tham dự, trong đó văn hóa tham dự là môi trường để tính tích cực chính trị của người dân được phát huy. Ngoài ra, các tài liệu của Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Văn phòng Thể chế Dân chủ và Nhân quyền OSCE (ODIHR) tập trung vào khía cạnh thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ trong các đảng phái và cơ quan dân cử. Về kinh nghiệm vận dụng chính sách, cuốn sách của Epghênhi Ambaraxumốp phân tích Chính sách kinh tế mới (NEP) thời V.I. Lênin tại Liên Xô đã chỉ rõ sự cần thiết phải dựa vào tính độc lập, tự giác của nông dân thông qua chính sách thuế nông nghiệp và tự do lưu thông lương thực.

Các hướng nghiên cứu về thực trạng nông dân, làng xã và giải pháp chính sách

  • Về đặc điểm văn hóa, thiết chế làng xã truyền thống: Các công trình của Phan Đại Doãn ("Làng xã Việt Nam - Một vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội"), Nguyễn Hồng Phong ("Xã thôn Việt Nam"), Nguyễn Từ Chi ("Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ Bắc Bộ") chỉ ra rằng sự tham gia của nông dân vận hành quanh trục gia đình - dòng họ - làng xóm, chịu sự điều chỉnh của hương ước, lệ làng và nguyên tắc tự quản. Nhà địa lý học người Pháp Pierre Gourou ("Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ") mô tả mật độ dân số dày đặc (450 người/km²), tính liên kết thông qua hoạt động đắp đê ngăn lũ, lũy tre làng và sự kiểm soát của dư luận xã hội. Nhà nhân học Jonh Kleinen ("Làng Việt đối diện với tương lai, hồi sinh quá khứ") làm rõ các yếu tố bất biến và khả biến trong làng xã đồng bằng Bắc Bộ, khẳng định sức mạnh cố kết của cộng đồng làng qua các biến thiên lịch sử.
  • Về sự biến đổi vị thế chính trị - kinh tế của nông dân: Đặng Phong ("Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới") phục dựng các cuộc tìm tòi đổi mới từ nông nghiệp: hiện tượng "khoán chui" ở Kiến An (Hải Phòng, 1962), Vĩnh Phúc (1966 - 1968), tiến tới Chỉ thị 100-CT/TW (1981) và Nghị quyết 10-NQ/TW (1988) cởi trói cho kinh tế hộ. Hoàng Chí Bảo ("Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay") tổng kết 4 lần biến đổi vị thế của nông dân: (1) từ nô lệ thành người làm chủ đất nước sau năm 1945; (2) được chia ruộng đất sau kháng chiến chống Pháp và cải cách ruộng đất; (3) từ nông dân cá thể vào hợp tác xã rồi chuyển sang nhận khoán tự chủ; (4) bước vào kinh tế thị trường, đối mặt với chuyển dịch cơ cấu và phân tầng xã hội.
  • Về các khía cạnh an sinh, lao động và thiết chế hiện đại: Nguyễn Văn Đại phân tích công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đồng bằng sông Hồng; Phan Thị Kim Oanh nghiên cứu vai trò bảo đảm an sinh xã hội cho nông dân; Nguyễn Thị Lệ Thủy, Bùi Hồng Việt, Mai Thị Ánh khảo sát tình trạng tách biệt kinh tế của nông dân nghèo; Đỗ Thị Hải Hà nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm; Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh hợp tác xã kiểu mới là giải pháp khắc phục tính chất yếu thế của 10 triệu hộ nông dân riêng lẻ; Mạch Quang Thắng phân tích biến đổi cơ cấu giai cấp nông dân từ 1996; Lê Quốc Lý cảnh báo nguy cơ xung đột giữa nông dân với chính quyền và doanh nghiệp trong thu hồi đất; Tạ Ngọc Tấn phân tích xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội; Đinh Thế Huynh cùng nhóm tác giả đánh giá 30 năm đổi mới trên phương diện phân hóa giàu nghèo và lao động nông nghiệp thời vụ. Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Tạp chí Cộng sản và Hội Nông dân Việt Nam tổ chức ngày 28/11/2016 (gồm 73 tham luận) đã nhận diện 4 mâu thuẫn, nghịch lý lớn của nông dân trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
  • Về kinh nghiệm quốc tế: Đặng Kim Sơn ("Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa") phân tích bài học từ phong trào "Làng mới" (Saemaul Undong) của Hàn Quốc thập niên 1960 (nông dân tự bầu ban phát triển thôn, tự chủ thi công và giám sát) và cơ chế chênh lệch giá trị lá phiếu giữa nông thôn và thành thị tại Nhật Bản; tài liệu của DFID về sinh kế nông thôn bền vững; cuốn sách do Hội đồng Lý luận Trung ương xuất bản tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc (Trần Tích Văn, Vương Tề Ngạn, Chu Hòa Bình, Lưu Phúc Hợp, Lý Bồi Lâm) về cải cách tam nông, tự trị thôn dân và kinh nghiệm khoán ruộng đất tại thôn Tiểu Cương (tỉnh An Huy).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận nông dân dưới góc độ kinh tế học, xã hội học nông thôn, văn hóa học làng xã, hoặc phân tích tính tích cực chính trị của công dân ở phạm vi phổ quát. Chưa có công trình khoa học nào xây dựng một khung lý thuyết chuyên biệt về tính tích cực chính trị của riêng giai cấp nông dân; chưa xác lập hệ thống tiêu chí định lượng và định tính nhằm đo lường mức độ tích cực chính trị của nông dân; đồng thời chưa có cuộc điều tra thực chứng quy mô lớn nào đánh giá thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân trên địa bàn đặc thù là vùng duyên hải Bắc Bộ. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp những vấn đề lý luận và thực tiễn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin: các quy luật duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội (kinh tế quy định nội dung và tính chất của ý thức và hành vi chính trị). Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của nông dân trong khối liên minh công - nông và quan điểm của Người về tính tích cực ("Tích cực là bất kỳ việc gì cũng vui vẻ, hăng hái, có tinh thần phụ trách, vượt mọi khó khăn, quyết làm tròn nhiệm vụ..."). Luận án đồng thời dựa trên các văn kiện lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương về giai cấp nông dân, vai trò làm chủ của nông dân trong xây dựng nông thôn mới.

Về mặt khái niệm, luận án tổng hợp ba cấu phần:

  • Nông dân: Là người cư trú ở nông thôn, tham gia lao động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử dụng tư liệu sản xuất cơ bản gắn với đất, rừng và biển.
  • Tính tích cực: Trạng thái chủ động và có ý thức trong hoạt động của chủ thể nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển (bản thân tính chủ động, tự giác chính là tính tích cực).
  • Chính trị: Hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia gắn với việc giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội.

Từ đó, luận án xác lập định nghĩa tổng quát:

"Tính tích cực chính trị của nông dân là khái niệm dùng để chỉ tính chất chủ động, tự giác và có ý thức trách nhiệm của người nông dân nhằm tiến hành có hiệu quả các hoạt động chính trị hợp hiến, hợp pháp trên địa bàn nông thôn, qua đó thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của chế độ chính trị, của đất nước."

Khung phân tích của luận án định vị tính tích cực chính trị của nông dân qua 4 biểu hiện: (1) Chủ động, tự giác, có ý thức trách nhiệm trong nhận thức và tiến hành hoạt động chính trị; (2) Có tinh thần xây dựng; (3) Thực hiện đúng pháp luật; (4) Hoạt động đạt hiệu quả thực tế.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả kết hợp các phương pháp chung, liên ngành và chuyên ngành:

  • Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic: Sử dụng để phân tích tiến trình biến đổi vị thế chính trị - xã hội và hành vi chính trị của nông dân qua các giai đoạn cách mạng và đổi mới.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Khái quát từ các hành vi đơn lẻ, các nhóm hành vi của cá nhân nông dân để đánh giá tính chất tập thể của cộng đồng, giai cấp nông dân trong vùng.
  • Phương pháp văn bản học, chính trị học so sánh, phân tích hành vi: Dùng để đối chiếu các quy định pháp lý, chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hành vi thực tế của nông dân.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (định tính và định lượng): Tác giả thực hiện khảo sát thực chứng bằng phiếu hỏi tại 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên theo cấu trúc: mỗi tỉnh/thành chọn 02 huyện; mỗi huyện chọn 02 xã; mỗi xã phát 40 phiếu điều tra. Tổng số mẫu thu thập và xử lý là 800 phiếu tại 10 huyện và 20 xã.
Thông số cấu trúc mẫu Chi tiết thực hiện
Địa bàn khảo sát 5 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình
Quy mô đơn vị cấp huyện 10 huyện (chọn ngẫu nhiên 02 huyện/tỉnh, thành phố)
Quy mô đơn vị cấp xã 20 xã (chọn ngẫu nhiên 02 xã/huyện)
Định mức phiếu tại mỗi xã 40 phiếu điều tra/xã
Tổng dung lượng mẫu 800 phiếu điều tra

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu sơ cấp: 800 phiếu điều tra xã hội học do chính tác giả thực hiện trong giai đoạn 2015 - 2016 tại 20 xã thuần nông và ven biển vùng duyên hải Bắc Bộ.
  • Dữ liệu thứ cấp: Các văn kiện, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, niên giám thống kê các tỉnh/thành phố; các báo cáo tổng kết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Hội Nông dân các cấp trong vùng; số liệu từ 7 biểu thống kê chuyên đề được tác giả trích dẫn trong văn bản luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này chia làm 3 tiết: (1.1) Tình hình nghiên cứu lý thuyết về tính tích cực chính trị của nông dân; (1.2) Tình hình nghiên cứu về thực trạng, quan điểm và giải pháp nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân; (1.3) Thành tựu nghiên cứu và những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu; khép lại bằng phần Tiểu kết Chương 1. Tác giả phân loại hệ thống công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục chính: lý thuyết và thực chứng.

Luận án khẳng định các tác giả đi trước đã đóng góp nhiều luận điểm có giá trị về bản chất lối sống xã hội chủ nghĩa (Chu Khắc), khái niệm tính tích cực chính trị công dân (Nguyễn Thị Kim Hoa), đặc điểm làng xã và văn hóa nông dân châu thổ Bắc Bộ (Pierre Gourou, Phan Đại Doãn, Nguyễn Từ Chi, Jonh Kleinen), những chuyển biến qua cơ chế khoán (Đặng Phong) và sự biến đổi giai cấp nông dân (Hoàng Chí Bảo, Mạch Quang Thắng). Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về "tính tích cực chính trị của nông dân". Luận án xác định nhiệm vụ khoa học là kế thừa các luận điểm lý thuyết nền tảng để thiết kế hệ thống khái niệm, cơ sở hình thành và bộ tiêu chí đánh giá phục vụ việc khảo sát thực chứng.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tính tích cực chính trị của nông dân

Nội dung chương tập trung phát triển hệ thống lý luận gồm 3 tiết chính:

  • Khái niệm tính tích cực chính trị của nông dân: Phân tích các thành tố "nông dân", "tính tích cực", "chính trị" và đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh. Tác giả phân tích 3 đặc điểm:
    1. Mang tính giai cấp, tính lịch sử: Gắn liền với lợi ích, hệ tư tưởng giai cấp và biến đổi linh hoạt theo từng thể chế, từng điều kiện lịch sử cụ thể.
    2. Vừa mang yếu tố tự thân, vừa mang yếu tố cộng đồng: Bắt nguồn từ sự tự nguyện, ý thức chủ động của cá nhân nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ của khối "cộng cư, cộng lợi, cộng cảm, cộng mệnh" trong không gian làng xã.
    3. Thể hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống và có tính không loại trừ: Biểu hiện từ lao động sản xuất, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng chống tham nhũng; thành quả chính trị mang tính công cộng nên dễ dẫn đến tâm lý ỷ lại nếu thiếu cơ chế phân định trách nhiệm.
  • Vai trò của tính tích cực chính trị của nông dân: Luận giải 3 vai trò: Hiện thực hóa quyền làm chủ của nông dân; nâng cao vị thế chính trị của nông dân và củng cố khối liên minh công - nông - trí thức; thúc đẩy quá trình nhận thức và điều chỉnh hành vi vì sự phát triển cá nhân và cộng đồng.
  • Cơ sở hình thành, cấu trúc và phương thức thể hiện: Phân tích tác động của các nhân tố khách quan (kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất đai sản xuất, điều kiện văn hóa làng xã) và nhân tố chủ quan (nhận thức chính trị, trình độ dân trí, động cơ lợi ích).
  • Tiêu chí đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân: Xây dựng hệ thống tiêu chí dựa trên nhận thức chính trị, mức độ tham gia vào các thiết chế quyền lực (bầu cử, ứng cử), mức độ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và hiệu quả đóng góp cho cộng đồng nông thôn.

Chương 3: Thực trạng tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam hiện nay và vấn đề đặt ra

Chương 3 khảo sát thực tế tại 5 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Tác giả phân tích mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của vùng (vùng duyên hải có truyền thống lúa nước lâu đời, hệ thống đê điều, kinh tế biển, tính cố kết dòng họ cao) đối với việc hình thành tính tích cực chính trị.

Ký hiệu Tên bảng thống kê trong luận án Trang số
Biểu số 1 NSLĐ của các khu vực kinh tế theo giá hiện hành 77
Biểu số 2 Số hộ, số nhân khẩu vùng duyên hải Bắc Bộ 78
Biểu số 3 Tỷ lệ phụ nữ vùng duyên hải Bắc Bộ sinh con thứ 3 trở lên 96
Biểu số 4 Thống kê phương tiện, tiện nghi sinh hoạt vùng nông thôn vùng duyên hải Bắc Bộ 98
Biểu số 5 Đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp và các ngành kinh tế của Việt Nam 104
Biểu số 6 Trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người dân từ 15 tuổi trở lên của nông thôn vùng duyên hải Bắc Bộ 107
Biểu số 7 Dân số vùng nông thôn vùng duyên hải Bắc Bộ biết đọc, biết viết 108

Thông qua số liệu điều tra 800 phiếu và số liệu thứ cấp, luận án chỉ ra các mặt thực trạng:

  • Mặt tích cực: Tỷ lệ cử tri nông dân đi bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt tỷ lệ cao; nông dân tích cực tham gia các phong trào hiến đất, đóng góp ngày công, kinh phí xây dựng hạ tầng nông thôn mới; tham gia các cuộc họp thôn, xóm để bàn bạc các công việc chung.
  • Hạn chế và tồn tại: Tính tích cực trong bầu cử ở một bộ phận nông dân còn mang tính hình thức, đi bầu hộ, bầu thay; sự quan tâm tới tiêu chuẩn đại biểu và chương trình hành động chưa sâu sắc. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở nhiều nơi còn thụ động, người dân ngại va chạm, chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát các dự án đầu tư công tại xã. Tồn tại hiện tượng khiếu kiện phức tạp liên quan đến thu hồi đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng. Dân trí và tỷ lệ qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn từ 15 tuổi trở lên còn thấp (Biểu 6), mức sinh con thứ ba còn cao ở một số địa phương ven biển (Biểu 3), tình trạng nông dân bỏ ruộng đi làm ăn xa hoặc xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc gây xáo trộn tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở.
  • Nguyên nhân: Nhận thức của cấp ủy, chính quyền một số nơi về dân chủ cơ sở chưa đầy đủ; năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế; cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nông dân chưa đồng bộ; áp lực kinh tế và đời sống khó khăn khiến nông dân ưu tiên giải quyết việc làm trước mắt hơn tham gia hoạt động chính trị.

Chương 4: Quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nâng cao tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ

Trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế - xã hội đến năm 2020, luận án xác định các quan điểm định hướng:

  • Phát huy tính tích cực chính trị của nông dân phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Gắn việc nâng cao tính tích cực chính trị với việc phát triển kinh tế nông thôn, chăm lo lợi ích thiết thân của hộ nông dân.
  • Bảo đảm phát huy dân chủ thực chất đi đôi với giữ vững kỷ cương, pháp luật, củng cố quốc phòng - an ninh vùng ven biển.

Hệ thống giải pháp chủ yếu được luận án xây dựng gồm:

  1. Nhóm giải pháp kinh tế: Thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã kiểu mới theo chuỗi giá trị; hoàn thiện chính sách đất đai, tín dụng nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập thực tế, tạo nền tảng vật chất cho sự tham gia chính trị của nông dân.
  2. Nhóm giải pháp giáo dục, nâng cao nhận thức: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho lao động nông thôn (khắc phục các hạn chế nêu tại Biểu 6 và Biểu 7); bồi dưỡng văn hóa chính trị và ý thức trách nhiệm công dân.
  3. Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và phát huy dân chủ cơ sở: Thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; công khai, minh bạch các khoản đóng góp, tài chính công và quy hoạch đất đai; bảo đảm phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Nâng cao hiệu quả tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo từ cơ sở.
  4. Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở: Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng; nâng cao năng lực quản lý của chính quyền cấp xã; đổi mới nội dung hoạt động của Hội Nông dân các cấp trong vùng nhằm thực hiện tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tập hợp quần chúng nông dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xác lập một khái niệm khoa học hoàn chỉnh về "Tính tích cực chính trị của nông dân", làm rõ nội hàm gồm 4 biểu hiện bản chất: tính chủ động tự giác, tinh thần xây dựng, tuân thủ pháp luật và hiệu quả hoạt động trong không gian nông thôn.
  • Phân tích có hệ thống 3 đặc điểm (tính giai cấp/lịch sử; tính chất kết hợp tự thân - cộng đồng; tính đa dạng không loại trừ) và 3 vai trò chính trị - xã hội cơ bản của tính tích cực chính trị của nông dân.
  • Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá tính tích cực chính trị của nông dân, tạo cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu hành vi chính trị của giai cấp nông dân trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm thông qua kết quả xử lý 800 phiếu điều tra tại 5 tỉnh, thành phố vùng duyên hải Bắc Bộ; lượng hóa mức độ tham gia của nông dân vào hai hoạt động trọng yếu: bầu cử và thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới.
  • Chỉ rõ những nghịch lý và vấn đề đặt ra tại vùng duyên hải Bắc Bộ: mâu thuẫn giữa yêu cầu phát huy dân chủ với trình độ đào tạo thấp, tình trạng di cư lao động, sự thụ động trong giám sát cơ sở và tranh chấp đất đai.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính khả thi đối với các cơ quan lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể vùng duyên hải Bắc Bộ nhằm phát huy nguồn lực chính trị của hơn 5 triệu cư dân nông thôn phục vụ ổn định chính trị và bảo vệ chủ quyền biển đảo đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được xác định từ phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung khảo sát tính tích cực chính trị của nông dân trong hai hoạt động thực tiễn cụ thể là hoạt động bầu cử và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong phong trào xây dựng nông thôn mới; chưa bao quát toàn diện các khía cạnh hành vi chính trị khác như tham gia hoạch định chính sách cấp vĩ mô, giải quyết tranh chấp pháp lý phức tạp hay hoạt động trên không gian truyền thông đa phương tiện.
  • Giới hạn về không gian và thời gian: Dữ liệu khảo sát thực nghiệm tập trung tại 5 địa phương thuộc duyên hải Bắc Bộ trong giai đoạn 2015 - 2016; các dự báo và giải pháp được thiết kế với tầm nhìn đến năm 2020.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng khảo sát thực chứng tính tích cực chính trị của nông dân sang các vùng kinh tế - sinh thái khác (như Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Trung du miền núi phía Bắc); đồng thời theo dõi, đánh giá biến đổi hành vi chính trị của nông dân trong bối cảnh các chính sách đất đai mới, tác động của kinh tế số và chuyển đổi mô hình nông thôn mới nâng cao sau năm 2020.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Chính trị học, Xã hội học chính trị, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Triết học Mác - Lênin. Chương 2 (khung lý luận và tiêu chí đánh giá) cung cấp phương pháp tiếp cận hữu ích cho các đề tài nghiên cứu về giai cấp và cơ cấu xã hội.
  • Đối với các cơ quan hoạch định chính sách: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo các cấp, Văn phòng Điều phối nông thôn mới và Hội Nông dân Việt Nam trong việc tổng kết, cụ thể hóa các nghị quyết về tam nông.
  • Đối với cấp ủy và chính quyền địa phương vùng duyên hải Bắc Bộ: Hệ thống giải pháp tại Chương 4 có thể được vận dụng trực tiếp vào công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, bầu trưởng thôn, cũng như việc triển khai quy chế dân chủ cơ sở, xử lý các điểm nóng khiếu kiện đất đai tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về "Tính tích cực chính trị của nông dân"?

Tác giả định nghĩa: "Tính tích cực chính trị của nông dân là khái niệm dùng để chỉ tính chất chủ động, tự giác và có ý thức trách nhiệm của người nông dân nhằm tiến hành có hiệu quả các hoạt động chính trị hợp hiến, hợp pháp trên địa bàn nông thôn, qua đó thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của chế độ chính trị, của đất nước."

2. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa của luận án được thực hiện ra sao?

Khảo sát thực địa được thực hiện bằng phương pháp điều tra xã hội học với tổng quy mô 800 phiếu hỏi tại 5 tỉnh, thành phố vùng duyên hải Bắc Bộ (Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình). Tại mỗi địa phương, tác giả chọn ngẫu nhiên 02 huyện (tổng số 10 huyện); mỗi huyện chọn 02 xã (tổng số 20 xã); tại mỗi xã phát 40 phiếu điều tra cho các hộ nông dân.

3. Tính tích cực chính trị của nông dân có những đặc điểm cơ bản nào?

Theo luận án, tính tích cực chính trị của nông dân có 3 đặc điểm: (1) Mang tính giai cấp và tính lịch sử; (2) Vừa mang yếu tố tự thân của người nông dân, vừa mang yếu tố cộng đồng (gắn chặt với quan hệ dòng họ, thôn xóm, tính tự quản làng xã); (3) Thể hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội và có tính không loại trừ (lợi ích chính trị mang tính công cộng, mọi người cùng hưởng dù mức độ đóng góp khác nhau).

4. Vùng duyên hải Bắc Bộ trong luận án được xác định theo văn bản pháp lý nào và có quy mô ra sao?

Vùng duyên hải Bắc Bộ được xác định theo Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 5 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Vùng có diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km², dân số gần 8 triệu người (nông thôn hơn 5 triệu người), đường biên giới trên bộ với Trung Quốc dài trên 118 km và trên 600 km bờ biển.

5. Luận án kế thừa nhận định về 4 lần biến đổi vị thế chính trị - xã hội của nông dân Việt Nam từ công trình nào?

Luận án kế thừa nhận định từ cuốn sách "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay" của tác giả Hoàng Chí Bảo. Bốn lần biến đổi gồm: (1) Từ nô lệ thành người làm chủ đất nước sau Cách mạng Tháng Tám 1945; (2) Được giải phóng kinh tế và xác lập địa vị có ruộng đất sau năm 1954 và cải cách ruộng đất; (3) Từ nông dân cá thể trở thành xã viên hợp tác xã rồi chuyển sang nhận khoán tự chủ kinh tế hộ; (4) Chuyển dịch từ hộ thuần nông bước vào nền kinh tế thị trường, vượt qua ngưỡng thuần nông để liên kết sản xuất mới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Huy Toàn là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Chính trị học, tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tích cực chính trị của nông dân vùng duyên hải Bắc Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết, xác lập khái niệm và hệ thống tiêu chí đánh giá, tác giả đã xử lý nguồn dữ liệu thực chứng gồm 800 phiếu khảo sát tại 5 tỉnh, thành phố để chỉ ra thực trạng tham gia bầu cử và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới. Công trình đã luận giải nguyên nhân của những tồn tại, dự báo các vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kinh tế, thể chế, giáo dục nhận thức và đổi mới hệ thống chính trị cơ sở đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo khoa học cho công tác đào tạo chính trị học và cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc hoạch định chính sách tam nông tại khu vực duyên hải Bắc Bộ.