Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU 1. VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU Trong mấy thập kỷ qua, làn sóng công nghiệp hóa ñã diễn ra ở nhiều nước ñang phát triển. Công nghiệp hóa có sự ña dạng về mô hình, ñiều này tùy thuộc ñiều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi nước khi bước vào công nghiệp hóa. Bên cạnh ñó, bối cảnh quốc tế cũng ảnh hưởng rất lớn ñến việc lựa chọn con ñường, phương thức tiến hành công nghiệp hóa ở mỗi nước.
Thực tế cho thấy, quan niệm về công nghiệp hoá có những cách tiếp cận khác nhau và có nhiều ñiểm chưa ñồng nhất. ðiều ñó có nguyên nhân từ thời ñiểm xuất phát và phương thức tiến hành công nghiệp hoá của các nước có khác nhau. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) thì có ñến 128 cách ñịnh nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá. Từ cuối thế kỷ 18, khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở nước Anh và dần lan sang các nước tư bản khác thì công nghiệp hoá ñược hiểu là ñưa ñặc tính công nghiệp cho một hoạt ñộng; trang bị các nhà máy, các loại công nghiệp cho một vùng, một nước.
Quan niệm này ñồng nghĩa với phát triển công nghiệp, tách biệt hoặc thậm chí ñối lập nó với sự phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Công nghiệp hoá ñược coi là quá trình làm cho công nghiệp chiếm tỷ trọng áp ñảo trong nền kinh tế. Về sau, quan niệm công nghiệp hoá ñược mở rộng, không chỉ ñơn thuần là phát triển nền công nghiệp thành lĩnh vực ñóng vai trò chủ ñạo trong nền kinh tế, mà còn là biến tất cả các hoạt ñộng sản xuất khác thành loại hình hoạt ñộng công nghiệp. Ở Liên Xô, công nghiệp hoá ñược quan niệm là quá trình xây dựng nền ñại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp.
ðó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy… Quan niệm này ñược 6 ñưa ra trong bối cảnh khi bắt ñầu thực hiện công nghiệp hoá, Liên Xô vẫn thiếu một hệ thống công nghiệp nặng hoàn chỉnh và kinh tế tiểu nông vẫn còn tồn tại khá phổ biến, ñồng thời Liên Xô còn bị phương Tây bao vây phong toả về kinh tế. Như vậy, mục tiêu của công nghiệp hoá là tập trung cao ñộ cho phát triển công nghiệp nặng. ðiều ñó có ý nghĩa thiết thực với Liên Xô khi ñó, nó không chỉ là vấn ñề kinh tế mà là cả vấn ñề quốc phòng. UNIDO cũng ñưa ra khái niệm công nghiệp hoá.
ðó là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân ñược ñộng viên ñể phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện ñại. ðặc ñiểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay ñổi ñể sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng ñảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp ñộ cao, ñảm bảo ñạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội. Nhìn chung, những quan niệm về công nghiệp hoá trên ñây ñều có nhân tố hợp lý. Tuy nhiên, chúng mới chỉ ñề cập ñến khía cạnh vật chất - kỹ thuật mà chưa ñề cập ñến một vấn ñề cũng rất quan trọng là khía cạnh cơ chế, thể chế kinh tế - xã hội.
Thực tế ở nhiều nước cho thấy, trong quá trình công nghiệp hoá, nền kinh tế có sự thay ñổi lớn trên hai bình diện: kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội. Thứ nhất, nền sản xuất xã hội dựa trên kỹ thuật thủ công là chính ñã chuyển sang sản xuất chủ yếu dựa trên kỹ thuật nền tảng của công nghiệp hiện ñại – trình ñộ cơ khí. ðồng thời, cơ cấu nền kinh tế cũng thay ñổi theo hướng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp, tăng tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Thứ hai, trong quá trình công nghiệp hoá, phương thức sản xuất theo lối công nghiệp ñược phổ cập, kinh tế hàng hoá phát triển cùng với quá trình ñô thị hoá.
ðây là quá trình chuyển biến về mặt thể chế và cấu trúc của nền kinh tế với việc chuyển hệ thống thể chế kinh tế từ nền kinh tế mang tính hiện vật, tự cấp, tự túc sang nền kinh tế thị trường dựa trên sự phân công lao ñộng xã hội phát triển cao. 7 Từ thực tiễn công nghiệp hóa ở các nước ñang phát triển, có thể hiểu: Công nghiệp hoá là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, sản xuất hàng hoá nhỏ mang nặng tính chất tự cung, tự cấp thành nền kinh tế công nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật hiện ñại, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, là quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu hơn vào ñời sống kinh tế quốc tế. Ở nước ta, trong Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương ðảng lần thứ 7 (khoá VII – 1994), công nghiệp hoá cũng ñược xác ñịnh là “Quá trình chuyển ñổi căn bản, toàn diện các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao ñộng thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao ñộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện ñại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao ñộng xã hội cao” [22, tr. Thực tế cho thấy, trong thời ñại cách mạng khoa học công nghệ ñang diễn ra mạnh mẽ ñưa ñến xu thế toàn cầu hóa ñời sống kinh tế quốc tế và việc hình thành trật tự phân công lao ñộng quốc tế thì mỗi nước trong thực thi công nghiệp hóa cần phải có sự ñiều chỉnh chiến lược phát triển ñể phát huy lợi thế của mình.
ðó chính là cơ sở ñể các nước tiến hành công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu. ðiều ñó có nghĩa là phát triển sản xuất trong nước nhưng lấy thị trường quốc tế là trọng tâm, chú trọng phát huy ñược lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế. Cơ sở của chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu là các nước khác nhau ñều có những lợi thế so sánh khác nhau về nguồn lực sản xuất vốn có của mỗi nước (vốn, lao ñộng, tài nguyên, vị trí ñịa lý.), vì thế các nước cần có sự trao ñổi cho nhau các lợi thế so sánh ñó thông qua các hoạt ñộng kinh tế ñối ngoại như ngoại thương, liên doanh liên kết cùng nhau ñầu tư phát triển sản xuất kinh doanh về một hay một số loại sản phẩm nào ñó.
8 Mấy thập kỷ qua, một số nền kinh tế châu Á ñã tiến hành thành công chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu với ñặc trưng cơ bản là hình thành một cơ cấu công nghiệp hướng về xuất khẩu dựa trên cơ sở vốn, công nghệ - kỹ thuật nước ngoài, khai thác tối ña các nguồn lực trong nước, nhất là nguồn lao ñộng dồi dào, giá rẻ và ñã ñạt ñược những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, các chính sách thúc ñẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu luôn chịu sự chi phối mạnh mẽ của sự biến ñộng của thị trường thế giới. Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, môi trường kinh tế quốc tế ñang và sẽ tiếp tục có những biến ñổi nhanh chóng. Các lợi thế cạnh tranh cũng có những thay ñổi ñáng kể.
Thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á những năm 1997 - 1998 ñã ñặt ra nhiều vấn ñề lớn về mức ñộ thích ứng và tính bền vững của mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu ở các nước ñang phát triển ñi sau trong bối cảnh mới của ñời sống kinh tế quốc tế. Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa kinh tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Vai trò ñầu tàu của công nghệ thông tin và truyền thông ñã làm thay ñổi căn bản mọi mặt của ñời sống kinh tế - xã hội, ñánh dấu sự phát triển toàn diện theo xu hướng mở và tự do hóa của nền kinh tế thế giới, xu hướng chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh ñó, các nước ñang phát triển ñi sau vẫn có cơ hội tiếp nhận dòng vốn, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý từ các nước phát triển ñể phát triển các ngành sản xuất và mở rộng thị trường quốc tế.
Nói cách khác, thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, các nước ñang phát triển có thể ñi tắt, ñón ñầu trên cơ sở khai thác lợi thế của người ñi sau, tận dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước. Tuy nhiên, những thách thức với các nước ñang phát triển cũng ngày càng lớn hơn. Ở các nước này, các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh trong nước sẽ chịu sức ép nặng nề của dòng hàng hóa, dịch vụ, công nghệ nhập khẩu và những ảnh hưởng của tình hình kinh tế, tài chính của khu vực và thế giới. Do vậy, ý nghĩa của chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu sẽ không còn nguyên vẹn 9 như mấy thập kỷ trước.
Sự thay ñổi lớn về ñiều kiện cụ thể mỗi nước cũng như ñiều kiện quốc tế cho thấy, các nước ñi sau khó có thể áp dụng dập khuân những chính sách và biện pháp thúc ñẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu như NIEs ðông Á ñã thực hiện thành công thời gian qua. Như vậy, trong bối cảnh mới, công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu ngày nay có ñiểm khác biệt cơ bản so với trước là cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn, không chỉ ở thị trường quốc tế mà ngay ở thị trường nội ñịa, ñộ mở cửa nền kinh tế của các nước sẽ mạnh hơn, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế sẽ ngày càng gia tăng. ðể thành công trong công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, các nước ñang phát triển ñi sau phải có chiến lược công nghiệp hóa hướng vào việc khai thác lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp và sản phẩm. Các chính sách cụ thể nhằm thúc ñẩy công nghiệp hóa của từng quốc gia cần ñược ñiều chỉnh cho phù hợp với từng giai ñoạn.