Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN. Bản chất kinh tÕ của kinh tế tƣ nhân. Kinh tế tư nhân gắn liền với vấn đề sở hữu. Sở hữu là quan hệ giữa con người và con người, trong quá trình sản xuất, phản ánh quá trình chiếm hữu của cải vật chất mà sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.
Nó là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội. Khi nhà nước xuất hiện, các quan hệ sở hữu được thể chế hóa bằng pháp luật hình thành chế độ sở hữu. Nó qui định các quyền: sử dụng, định đoạt, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp … và thực hiện các lợi ích của chủ thể. Quan hệ sở hữu còn chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội gắn liền với quan hệ tổ chức - quản lý; với quan hệ phân phối thông qua các lợi ích kinh tế.
Hình thức sở hữu là cơ sở khách quan của sở hữu tương ứng với những trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Xã hội loài người đã trãi qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu bộ lạc đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, cho đến nay, chỉ tồn tại 3 hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu công cộng, sở hữu tư nhân ( sở hữu tư nhân nhỏ và sở hữu tư nhân tư tư bản chủ nghĩa), sở hữu hỗn hợp. Trong một hình thái kinh tế - xã hội, duy trì cùng lúc nhiều hình thức sở hữu là một tất yếu khách quan.
Sự tác động lẫn nhau giữa sở hữu và các hình thức kinh tế được nối liền qua khâu trung gian là lợi ích kinh tế. Sự tương tác lẫn nhau giữa các lợi ích điều chỉnh các hình thức sở 6 hữu cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, khơi dậy động lực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sở hữu không phải là động lực trực tiếp nhưng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi ích kinh tế và trở thành nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế. Ở Việt Nam, từ Đại hội VI đến Đại hội X Đảng ta đã khắc phục nhận thức giản đơn về các khâu, các hình thức biểu hiện , các mối quan hệ của sở hữu bằng thay đổi quan niệm về sở hữu, chuyển từ việc xem sở hữu là mục đích sang xem sở hữu vừa là mục đích, vừa là phương tiện.
Bản chất của sở hữu trong chủ nghĩa xã hội là góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, là phát triển lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Sở hữu tư nhân, xét về nguồn gốc lịch sử là hình thức sở hữu tồn tại lâu dài qua nhiều phương thức sản xuất. Nó là hệ quả trực tiếp của quyền tự do cá nhân, phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân. Sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất.
Cho đến nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra khó có hình thức nào thay thế được nó. Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời khu vực kinh tế tư nhân. Khái niệm về kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân, hiện nay có nhiều ý kiến chưa đồng nhất, theo nghĩa rộng nền kinh tế được chia thành hai khu vực: Kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân.
Ở nước ta, có quan niệm cho rằng, kinh tế tư nhân đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư nhân. Có quan niệm đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế ngoài quốc doanh. Có quan niệm cho rằng kinh tế có 100% vốn nước ngoài (thuộc sở hữu tư nhân) nằm trong kinh tế tư nhân. Ở Việt Nam , Đại hội X của Đảng, xác định khu vực kinh tế tư nhân gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động với hình thức hộ kinh doanh cá thể và các 7 loại hình doanh nghiệp của tư nhân.
Trong đó, kinh tế cá thể , tiểu chủ dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất qui mô nhỏ, dựa vào sức lao động của chính họ giá trị thặng dư không đáng kể. Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê, hoạt động độc lập, chủ thể tư bản đồng thời là chủ doanh nghiệp. Sở hữu tư nhân lớn ra đời trên cơ sở tích tụ tư bản và sử dụng lao động làm thuê. Phần lớn giá trị thặng dư (m) được nó tích lũy để tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh và tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư (m).
Theo luật Doanh nghiệp năm 1999, sau đó được hoàn thiện thành Luật doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực vào 01/7/2006 thì việc tổ chức quản lý sản xuất của kinh tế tư bản tư nhân được biểu hiện ở mô hình doanh nghiệp gồm có: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân. Về quan hệ phân phối, trong kinh tế tư nhân, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau có quan hệ phân phối khác nhau. Đối với kinh tế cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao động chủ yếu thuộc về hộ gia đình hay cá nhân. Đối với kinh tế tư bản tư nhân, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm phần sản phẩm thặng dư (m) và người lao động được hưởng phần sản phẩm tất yếu (v).
Khi nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, các yếu tố khoa học - công nghệ và quản lý chưa có vai trò quan trọng mà dựa vào khai thác tài nguyên và sức lao động thì quan hệ phân phối chủ yếu dựa trên sự đóng góp về vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động làm cho toàn bộ sản phẩm thặng dư thuộc về nhà tư bản. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các yếu tố khoa học công nghệ, tổ chức quản lý của chủ doanh nghiệp, trình độ và tay nghề của người lao động cùng với thị trường. đóng vai trò ngày càng quan trọng. Chủ doanh nghiệp không còn là người sở hữu duy nhất, bên cạnh đó, vai trò điều tiết phân phối của nhà nước tăng lên thì quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn, bằng nhiều hình thức khác nhau.
8 Dù kinh tế tư nhân có nhiều trình độ phát triển khác nhau nhưng có bản chất chung là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, về các nguồn lực sản xuất. Những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có đặc trưng mang tính bản chất là họ sử dụng đồng vốn của chính họ và họ có quyền được huởng thành quả lao động do họ làm ra. Tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ là nguyên tắc hoạt động của các loại hình kinh tế tư nhân. Đó là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước, chỉ rõ đặc trưng cốt lõi của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng bộc lộ mặt tiêu cực là bóc lột giá trị thặng dư mà mức độ bóc lột phụ thuộc vàobản chất của chế độ chính trị, vì vậy vẫn còn tồn tại một bộ phận doanh nghiệp tư nhân chạy theo lợi nhuận mù quáng gây thiệt hại cho xã hội. Đặc điểm của kinh tế tƣ nhân: Xét về nguồn gốc, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ra đời là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tư hữu. Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản: - Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong lịch sử phát triển của xã hội loài người là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, kinh tế tư nhân có sức sống mãnh liệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngay trong môi trường đào thải khắc nghiệt kinh tế tư nhân vẫn tồn tại. Trong các nền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tư nhân thì các doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế tư nhân được hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thích ứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”. - Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao. 9 Sự ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân, gắn với kinh tế hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của sở hữu tư nhân và phân công lao động xã hội, kinh tế hàng hóa ra đời. Kinh tế hàng hóa có 2 giai đoạn phát triển: kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường. Trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, khu vực kinh tế tư nhân có qui mô nhỏ chiếm tỉ trọng lớn gắn liền với sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp mà gia đình là đơn vị cơ bản dựa trên cơ sở huyết thống hoặc công trường thủ công.