CHƯƠNG 1: TONG QUAN VAI TRO CUA HỘI BẢO VE NGUOI TIEU DUNG O VIET NAM 1. Khái quát pháp luật bảo vệ NTD và các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD ở Việt Nam 1. Khái quát pháp luật bảo vệ NTD ở Việt Nam Ở Việt Nam, một thời gian dài trước “đổi mới”, người dân sống trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt và một thời kỳ phục hồi sau chiến tranh. Trong giai đoạn này, mọi nguồn lực tập trung cho sự nghiệp giành độc lập, bảo vệ tô quốc và xây dựng đất nước sau chiến tranh nên nhu cầu tiêu dùng của người dân đều ở mức tối thiểu, vì vậy họ không quan tâm đến việc phải bảo vệ quyền lợi của mình.
Mặt khác, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hầu hết hàng hóa, dịch vụ đều do doanh nghiệp nhà nước hoặc các hợp tác xã sản xuất, cung ứng và tuân thủ chặt chẽ các chỉ tiêu chất lượng do nhà nước quy định nên người tiêu dùng yên tâm về chất lượng hang hóa do các cơ sở cung cấp. Bởi vậy, trước đây, ở nước ta van đề bảo vệ quyền lợi của NTD dùng chưa được xã hội quan tâm cả về nhận thức đến việc xây dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. Vào những năm 90 của thế kỉ 20, khi Việt Nam bắt đầu chuyền từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được áp dụng đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh do đó người tiêu dùng có điều kiện tốt hơn trong việc lựa chọn và sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực do nên kinh tế thị trường đem lại, bản thân nó cũng làm nay sinh không ít những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ich chính đáng của người tiêu dùng cũng như gây bất 6n cho nền kinh tế và cho xã hội.
Hàng giả, hàng nhái hiện diện khá nhiều, hiện tượng thương nhân cân, đo sai tương đối phổ biến. Do đó, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, chú ý tới công tác bảo vệ quyền lợi NTD và được đánh dấu bang sự ra đời của Pháp lệnh bảo vệ quyển lợi NTD được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 27/4/1999. Có thê nói, ở nước ta công tác bảo vệ NTD chỉ được biết đến từ khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD được ban hành. Dé hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ NTD, Chính phủ đã 7 ban hành Nghị định số 69/2001/ND-CP của Chính phủ ngày 2/10/2001 quy định chỉ tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD và sau đó Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 55/2008/ND-CP ngày 24/4/2008.
Các quy định trong hai văn bản pháp luật nói trên đã trực tiếp bảo vệ quyền lợi NTD ở các khía cạnh như: Đưa ra định nghĩa về NTD; Quy định các quyền và trách nhiệm của NTD; Quy định hệ thống các nghĩa vụ của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Quy định cơ chế khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng khi bị xâm phạm quyên, lợi ích hợp pháp; Quy định các biện pháp xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; Quy định trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng: Quy định về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD trong đó ghi nhận vai trò của tổ chức bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD. Trước khi, Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) được ban hành, bên cạnh Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định số 55/2008/ND-CP quy định trực tiếp việc bảo vệ quyền lợi NTD, pháp luật Việt Nam giai đoạn đó cũng đã có nhiều văn ban chứa đựng quy phạm gián tiếp liên quan đến hoạt động bảo vệ NTD. Các văn bản pháp luật trong nhóm này quy định những van dé sau: (i) Ghi nhận các nguyên tac chung vê bảo vệ quyên lợi NTD được thê hiện trong Hiến pháp 1992, Bộ Luật dan sự 2005; (ii) Quy định chung về kiểm soát sự gia nhập thị trường và diéu tiết hoạt động trên thị trường của các thương nhân trong Luật doanh nghiệp 2005; Luật đầu tư 2005; Luật thương mại 2005; Luật cạnh tranh 2004; Pháp lệnh giá; Pháp lệnh quảng cáo 2003; Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007; Pháp lệnh đo lường 1999; Các quy định về nhãn hàng hóa[20]; (iii) Các quy định điều tiết ngành, kiểm soát sự gia nhập thị trường và hoạt động trên thị trường của thương nhân trong từng chuyên ngành (như y tế, thực phẩm, giao thông, xây dựng, du lịch, ngân hàng, chứng khoán, bưu chính viễn thông) được quy định trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989; Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân 2003; Luật dược 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật các tô chức tín dụng 1997; Luật điện lực 2004; Pháp lệnh bưu chính, viễn thông 2000 (được thay thế băng luật bưu chính.); Luật chứng khoán 2006; Luật du lịch 2005, Luật Viễn thông 2009. 8 Sau hon 10 năm thi hành, Pháp lệnh bao vệ quyền lợi NTD và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đã cơ bản đi vào cuộc sống; tạo lập hành lang pháp lý dé NTD tự bảo vệ quyên va lợi ích hợp pháp của mình; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; tạo cơ sở pháp lý dé các cơ quan nha nước thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi của NTD.
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản có liên quan đến công tác bảo vệ NTD đã bộc lộ một số hạn chế như: các quy định về quyên, trách nhiệm của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của thương nhân còn chung chung, chưa cụ thé rõ ràng khó thực thi trong thực tế; chưa có quy định nhằm khôi phục lợi ích cho NTD cũng như chưa có quy định thừa nhận yêu cầu bảo vệ đặc biệt đối với NTD; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thâm quyền trong công tác bảo vệ NTD còn hạn chế; chưa tạo ra cơ chế hữu hiệu giúp các tổ chức bảo vệ NTD hoạt động có hiệu quả; hệ thống chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm quyên lợi NTD còn bat hợp lý. Để công tác bảo vệ người tiêu dùng thực sự có hiệu quả khắc phục tình trạng thương nhân xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng ngày càng tăng cả về số lượng, quy mô, phạm vi lần mức độ vi phạm, Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội đã đưa việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi NTD vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009. Ngày 07 tháng 01 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 25/QD-TTg phân công, Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Luật bảo vệ quyền lợi NTD quy định những van đề nhăm trực tiếp bảo vệ NTD mà chưa được quy định trong các văn bản pháp luật khác còn hiệu lực.
Ngày 17/11/2010, Luật bảo vệ quyền lợi NTD với 6 chương và 51 điều đã được Quốc hội khóa 12 kì họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2011. Ké từ ngày này, Pháp lệnh bảo vệ quyên lợi NTD 1999 hết hiệu lực thi hành. Đề hướng dan thi hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành những văn bản sau: - Nghị định 99/2011/ ND-CP ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD -Nghị định 19/2012/NĐ-CP ngày 16/3/2012 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD -Quyết định 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/1/2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung 9 Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này đã quy định những vấn đề chủ yếu sau: - Điều 1 Luật bảo vệ quyền lợi NTD tiếp tục kế thừa định nghĩa về người tiêu dùng quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999. Theo đó, NTD được xác định là cá nhân, gia đình hoặc tô chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của mình.
- Luật đã quy định rõ các hành vi bị cam trong linh vuc bao vé quyén loi NTD. Cu thé là: tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không được thực hiện các hành vi sau: (i) lừa dối hoặc gây nhằm lẫn cho NTD thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che dấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch không chính xác về hàng hóa, dich vụ, về uy tín khả năng kinh doanh của mình; (ii) quấy rối NTD thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng hoặc có hành vi gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của NTD; (iii) ép buộc NTD giao dịch với mình khi NTD gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc dùng vũ lực, đe doa dùng vũ lực gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD; (iv) yêu cầu NTD thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không thỏa thuận trước với NTD; (v) cung cấp hàng hóa không đảm bảo chất lượng khi NTD gặp khó khăn hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD. Ngoài ra, Luật cũng cam người tiêu dùng, tô chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi của NTD dé xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân khác.