CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tổng quan nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới Theo báo cáo hoạt động DNNVV tại khu vực Châu Á (Phidel Marion G. Vineles, 2017), các DNNVV có sự đóng góp quan trọng trong sự tăng trưởng của khu vực và đóng vai trò như trụ cột của nền kinh tế Châu Á.
Tầm quan trọng của DNNVV có thể thấy rõ thông qua sự đóng góp trong tổng GDP của toàn khu vực, giải quyết về việc làm cho dân cư, tăng thu nhập cho người lao động, làm năng động nền kinh tế trong quá trình hội nhập (Phidel Marion G. Hiện nay, các vấn đề liên quan đến mô hình, hoạt động của các DNNVV luôn thu hút sự chú ý của các tư nhân và các tổ chức trên toàn thế giới (Phạm Minh Tuấn, 2015). Điều này có thể thấy rõ qua khối lượng và tính đa dạng, dồi dào của các tài liệu được công bố, từ các công trình nghiên cứu; bài báo; chiến lược, chính sách, chương trình phát triển DNNVV của quốc gia, khu vực và các luật lệ của Chính phủ ở mỗi quốc gia. Tổng quan về các nghiên cứu về DNNVV trên thế giới có thể được khái quát hóa qua các nét chính như sau: Nghiên cứu về DNNVV và tinh thần khởi nghiệp Michel Marchesnay (2011) đã phân tích sự phát DNNVV tại Pháp từ năm 1955 đến hiện tại.
Ông nhận thấy rằng, trong hai thập kỷ đầu, các DNNVV gặp phải sự giảm sút về sự công nhận xã hội và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ hai, DNNVV và khởi nghiệp lại nhận được sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ từ xã hội và chính trị. Marchesnay làm sáng tỏ những thách thức mà DNNVV phải đối mặt trong xã hội Pháp và những xã hội khác không thích nghi với rủi ro cá nhân. Trong khi đó, Jolanda Hessels và cộng sự (2011) phân tích các trường hợp phá sản của DNNVV dựa trên nghiên cứu trên 24 quốc gia, và chỉ ra rằng không phải tất cả các trường hợp phá sản đều do thất bại trong kinh doanh.
Timothy Bates (2005) và Brian Headd (2003) phát hiện một phần ba các DN quyết định tạm dừng kinh doanh đang hoạt động thành công, trong khi Deniz Ucbasaran và cộng sự (2005) từ 9 nghiên cứu tại Anh chỉ ra rằng khoảng 70% DN đánh giá kinh doanh cuối cùng của họ là thành công. Nobuyuki Harada (2007) cũng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố phi kinh tế như tuổi tác, giới tính trong quyết định rút lui của DN nhỏ tại Nhật. Dawn DeTienne và Karl Wennberg (2014) tiếp tục phân tích sâu hơn về các nguyên nhân và hậu quả của việc rút lui hay phá sản của DNNVV. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực ban đầu và tình hình hoạt động hiện tại trong việc quyết định rút lui khỏi thị trường.
Leonardo Becchetti và Jaime Sierra (2002) cũng đồng tình với quan điểm này, cho rằng mức độ hiệu quả hiện tại của DN có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng phá sản. Nghiên cứu về các nguồn lực trong DNNVV Các nghiên cứu gần đây đã tập trung vào vai trò của nguồn lực trong sự phát triển của DNNVV. Henrik Hansen và cộng sự (2009) từ nghiên cứu tại Bắc Karelia, Phần Lan, cho thấy định hướng kinh doanh (Entrepreneurial Orientation - EO) tăng cơ hội và sự tham gia của DNNVV trong mua sắm khu vực công. Các nghiên cứu của Catherine L.
Wang và Levent Altinay (2010), Juha Soininen và cộng sự (2012) cũng đồng quan điểm này. Brouthers và các cộng sự (2014) khám phá mối liên hệ giữa EO và hiệu quả kinh doanh quốc tế, kết hợp với yếu tố liên minh marketing. Họ phát hiện ra rằng, DNNVV đạt hiệu quả cao hơn khi kết hợp EO với liên minh phù hợp. Nghiên cứu của Jane W.
Lu và Paul W. Beamish (2001) cũng chỉ ra xu hướng mở rộng quốc tế của các DN với định hướng kinh doanh mạnh mẽ. Fabian Eggers và cộng sự (2013), qua nghiên cứu với 660 DNNVV Áo, phát hiện định hướng kinh doanh (EO) có tác động tích cực, trong khi định hướng khách hàng (CO) lại ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của DNNVV. Kwaku Atuahene-Gima và cộng sự (2005) cũng đồng quan điểm này.
Nhìn chung, các nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của định hướng kinh doanh (EO) đối với sự phát triển và thành công của DNNVV, đặc biệt trong bối cảnh kinh doanh quốc tế và mua sắm đầu tư công. Tổng quan nghiên cứu về DNNVV ở Việt Nam Trong những năm gần đây, nghiên cứu về DNNVV tại Việt Nam thu hút được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học trong và ngoài nước. 10 Nhìn một cách tổng quan, các nghiên cứu tập trung vào các hướng chính: đánh giá hoạt động của các DNNVV, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kết quả hoạt động của DNNVV và sự hỗ trợ của Nhà nước đối với khối DNNVV tại Việt Nam. Hướng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kỹ thuật của các DNNVV tại Việt Nam Trong các phân tích tổng quan về hoạt động của các DNNVV tại Việt Nam, Harvie Charles và Le Cong Luyen Viet (2010) đã đưa ra đánh giá hiệu quả kỹ thuật của các DN sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007.
Sử dụng dữ liệu từ ba cuộc khảo sát năm 2002, 2005 và 2007 với tổng số mẫu là 5.204 các DNNVV trong 9 ngành sau: (i) Thực phẩm và đồ uống, (ii) Dệt may, Giày dép; (iii) Thiết bị điện và điện tử (iv) Sản phẩm gỗ và đồ gỗ; (v) Hóa chất, cao su và các sản phẩm nhựa; (vi) Giấy, In ấn và Xuất bản; (vii) Sản phẩm kim loại; (viii) Các sản phẩm phi kim loại; và (ix) Máy móc và Thiết bị. Kết quả ước lượng từ mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên (Coelli, T. và các cộng sự, 2005) - phương pháp kinh tế lượng để đánh giá hiệu quả kỹ thuật, cho thấy của các DN sản xuất vừa và nhỏ tại Việt Nam có trung bình hiệu quả hiệu quả kỹ thuật tương đối cao. Mặc dù khung nghiên cứu giới hạn trong 5 năm từ 2002 đến 2007, nhưng kết quả cho thấy hiệu quả kỹ thuật đã tăng lên trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007 với các nghiên cứu trước đó (Quoc Ngu Vu, 2003; Nguyen Khac Minh và các cộng sự, 2007).
Ngoài ra, Viet Le, Charles Harvie (2010) cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các DN sản xuất vừa và nhỏ bao gồm: quy mô hoạt động, vị trí của DN, quyền sở hữu, việc hợp tác với DN nước ngoài, hợp đồng, tính đổi mới, cạnh tranh và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ với các cấp độ khác nhau. Hướng nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển của DNNVV tại Việt Nam Các hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hay tăng trưởng của các DNNVV tại Việt Nam thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Bằng nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Đồng bằng Sông Hồng, duyên hải miền Trung, Đồng bằng Sông Cửu Long và Khu vực Bắc bộ. Nham Phong Tuan và Yoshi Takahashi (2009) đã tập trung vào phân tích các yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng của các DNNVV, các DNNVV ở Việt Nam.
Tác giả sử dụng khung nghiên cứu của 11 David J. Storey (1994) với một số điều chỉnh phù hợp với môi trường nghiên cứu ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu bao gồm 337 DNNVV, được lấy từ dữ liệu của Ngân hàng Thế giới. Sau khi phân tích hồi quy, kết quả chỉ ra rằng quyền sở hữu, quy mô DN, thời gian hoạt động, chiến lược phát triển sản phẩm mới, chiến lược cạnh tranh là những nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng của các DNNVV.
Qua đó, nhóm tác giả đã đưa ra các đề xuất cho các nhà quản lý, nhà làm chính sách để có những biện pháp thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV. Là một phần từ nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về Quản trị tri thức (Knowledge Management - KM), Zdenek Molnar và các cộng sự (2013) đã chỉ ra KM là một vấn đề quan trọng đối với DVVVN tại Việt Nam. Tuy nhiên, với nguồn lực bị giới hạn, DNNVV ở các nước đang phát triển thường tập trung vào các mục tiêu mang tính khả thi và có thể thực hiện được, trong khi đó KM được xem là một khía cạnh khó đo lường vì nó thuộc về quản lý chiến lược dài hạn và liên quan đến việc thúc đẩy đổi mới. Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích thống kê và phương pháp suy luận từ tập mờ, nghiên cứu xác định lại các kết luận từ các nghiên cứu sơ bộ trước đó đối với vai trò của KM của các DNNVV tại Việt Nam.
Các phát hiện được trình bày trong bài báo này có thể giúp các nhà nghiên cứu hiểu được hoạt động của DNNVV ở các nước đang phát triển cũng như đề xuất các hướng tiếp cận khả thi đối với KM cho các DNNVV tại Việt Nam. Dưới góc độ tiếp cận các trở ngại về kinh tế mà các DNNVV đang gặp phải ở Việt Nam trong quá trình hội nhập vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hai Thi Thanh Chan (2015) kiểm tra mức độ nhận thức về những trở ngại trong các DNNVV và sự chuẩn bị (nếu có) để vượt qua những trở ngại đó. Các phương pháp định lượng được sử dụng để tiến hành phân tích dữ liệu khảo sát bao gồm 2.575 DNNVV tại Việt Nam. Kết quả cho thấy các DNNVV Việt Nam đang phải đối mặt bao gồm (1) cạnh tranh khốc liệt từ các DN trong và ngoài nước (2) khó khăn trong thị trường tiêu dùng, (3) thiếu vốn, và (4) sự hiểu biết hạn chế về hành lang pháp lý (OECD, 2009; OECD, 2012)) từ đó cung cấp một số gợi ý để giúp các DNNVV Việt Nam vượt qua những trở ngại này và chuẩn bị tích cực hội nhập vào các thị trường khu vực.
Tiếp cận theo hướng cụ thể hơn và sử dụng nghiên cứu định lượng và định tính thì Uyen H. Phan, và các cộng sự (2015) đã xác định các yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến kết quả 12 hoạt động của các DNNVV ở Việt Nam nhằm giúp họ đạt được sự phát triển bền vững. Trên cơ sở khảo sát năm 2008 của các DNNVV do Khoa học & Xã hội tiến hành, Hiệp hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam, nghiên cứu đưa ra cái nhìn toàn diện về những ảnh hưởng đối với quá trình hoạt động trong các DNNVV.