phần mở đầu đã trình bày phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài này là điều tra viên thuộc cơ quan điều tra các cấp của lực lượng Cảnh đợi m3 2 By, Ề : ‹)6¿ trẻ ena Pita tia viéu trang điều trai ou đt hành sa sát nhân dân trén cơ sở thực tế điều tra tội phạm theo chức năng và nhiệm vu của lực lượng cảnh sát điều tra. Vì vậy sau đây chúng tôi xin được trình bày về tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan điều tra các cấp trong lực lượng Công an nhân dan và đặc biệt là cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp.1 Tổ chức bộ máy cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân.1 Vài nét về lịch sử các cơ quan điều tra của Bộ Công an Lịch sử hình thành và phát triển cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an gắn liền với sự ra đời của Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nhiệm vụ giữ vững chính quyền non trẻ, đập tan bộ máy đàn áp của chế độ cũ và hoạt động phá hoại cửa bọn đế quốc, phản động, giữ gìn an ninh trật tự đất nước được coi là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Trước tình hình đó, cùng với việc thành lập chính quyền cách mạng, các tổ chức tiềh thân của lực lượng công an đã được thành lập: tại miền Bắc thành lập Sở Liêm phóng Bắc bộ; tại miền Trung thành lập Sở Trinh sát; tại miền Nam thành lập Quốc gia Tự vệ cuộc.
Mỗi địa phương có Sở cảnh sát thực hiện nhiệm vụ giữ trật tự. Ngoài ra, tại nhiều địa phương đã thành lập các đội Tự vệ đỏ; Tự vệ công nông; Trinh sát Việt Minh v. Tuy các tên gọi khác nhau nhưng các tổ chức này có nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự, bao vệ Dang, bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong thời kỳ này, do yêu cầu của cách mạng, mặc dù chức năng cụ thể chưa được phân định rõ, nhưng hoạt động điều tra đã bắt đầu được sơ khởi hình thành.
Điều này được chứng minh bằng nội dung Sắc lệnh số do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký về thể lệ cho Ty Liêm phóng và Sở cảnh sát khi bắt người: “Khi Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát bắt một người nào thì trong 24 giờ phải lập biên bản để tha ngay, hoặc đưa sang Tòa án quân sự, hoặc đưa sang ông Biện lý Tòa án tư pháp”. Do yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng, cần thiết phải có các cơ quan tư pháp để bảo vệ chế độ nhà nước dân chủ công hòa, cho nên ngày Ouai trẻ eta điêu tra vien trong điều tra ou du hiuh va 21/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13 về việc thành lập tổ chức tòa án và các tiểu ngạch thẩm phán. Thế nhưng, để có thể tiến hành xét xử các tội phạm chống lại chính quyền cách mạng cần thiết phải có bộ máy công an. Chính vì thế, ngày 21/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 23/SL về hợp nhất Sở Cảnh sát và các Sở (Ty) Liêm phóng thành một cơ quan có tên là: “Việt Nam công an vụ”.
Cơ quan Việt Nam công an vụ là cơ quan đầu tiên phát triển thành Bộ Công an sau này. Nội dung sắc lệnh quy định rõ cơ quan Việt Nam công an vụ tiến hành điều tra về những hành động có thể làm rối loạn trị an và mất trật tự trong nước của người Việt Nam hay người ngoại quốc; truy tầm can phạm để giúp Tòa án trong sự trừng tri. Như vậy, chức năng điều tra giúp Tòa án trừng trị những hành vi phạm tội được giao cho cơ quan Việt Nam công an vụ. Tiếp đó, để tăng cường đấu tranh chống bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ chính quyền, đồng thời bảo vệ được quyền tự do cá nhân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký trong Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/03/1946, Tổ chức tư pháp công an được thành lập theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trong sắc lệnh ghi rõ nhiệm vụ của tổ chức tư pháp công an truy tầm tất cả các vụ phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các Tòa án xét xử trong phạm vi pháp luật ấn định. Phụ trách tư pháp công an là dự thẩm, biện lý và phó biện lý của Tòa án. Trong các uy viên tư pháp công an có: Chủ sự và Phó chủ sự Phòng chính trị và Phòng tư pháp; Trưởng ban tư pháp; Quận trưởng công an các quận ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn; Trưởng Ty công an các tỉnh. Nếu Trưởng ty công an nhiều việc thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định một ban trong Ty công an làm nhiệm vụ uỷ viên tư pháp.
Như xậy, dựa vào Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 về tổ chức tư pháp công an thì đây là tổ chức cơ quan điều tra đầu tiên trong ngành công an thực hiện những nhiệm vụ điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự quy định. Đồng thời, thông qua đây có thể ! Bộ Nội vụ: Luc lượng an ninh điều tra, lịch sử biên niên (1945 — 1975), NXB Công an nhân dân. Oai trò eta (điệu tra vién trang điểu tra oa au hink sứ thấy, phụ trách công tác điều tra là Du thẩm, Biện ly, Phó biện lý của Toa án. Cồn các uy viên thực hiện nhiệm vụ điều tra do Chủ sự, Phó chủ sự Phòng chính trị và Phòng tư pháp, Trưởng ban tư pháp, Quận trưởng công an các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn) và Trưởng ty công an (thuộc Bộ Nội vụ).
Để hoàn thành được nhiệm vụ điều tra, uy viên tư pháp công an phải là người trung thành với Chính phủ, phải công minh, chính trực. Vì vậy, uy viên tư pháp công an sẽ phải thé: “Tôi thé sẽ trung thành với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tôi sẽ mang hết sức và công tâm ra phụng sự chức vụ của tôi, sẽ giữ bí mật các các thẩm vấn diều tra và luôn luôn cư xử cho xứng đáng là một uỷ viên tư pháp công minh, chính trực”!. Tháng 8 năm 1951, Hội nghị công an toàn quốc lần thứ VỊ đã bàn và quán triệt thực hiện Chỉ thị số 05/CT ngày 12/05/1951 của Ban Bí thư “Về nhiệm vụ và tổ chức của công an”, trong đó đã bàn và quyết định thành lập Phòng chấp pháp trực thuộc Ty bảo vệ chính trị trong Nha công an trung ương.
Phòng chấp pháp có nhiệm vụ bắt hỏi cung các vụ do thám, phản động quan trọng ở trung ương hay ở địa phương. Tại các tỉnh thì thành lập tiểu ban chấp pháp trực thuộc Ban bảo vệ chính trị. Như vậy, Phòng chấp pháp thuộc Ty bảo vệ chính trị, một mặt thay thế tổ chức tư pháp công an, mặt khác không chỉ làm nhiệm vụ điều tra tố tụng, mà còn thực hiện nhiệm vụ điều tra trinh sát. Thực hiện cùng mội lúc hai hình thức điều tra (điều tra tố tụng và điều tra trinh sát) có những thuận lợi nhất định như hỗ trợ kịp thời cho nhau trong điều tra tội phạm.
Tuy nhiên, trong công tác chấp pháp cũng mắc những khuyết điểm như trong công tác bắt, giam, giữ người. Để khắc phục những thiếu sót mà Hội nghị công an toàn quốc lần thứ VỊI đã rút ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 141/SL ngày 16/02/1953 về việc đổi Nha công an trung ương thành Thứ Bộ công an. Tách Phòng chấp pháp khỏi Ty bảo vệ chính trị và thành lập Vụ chấp pháp trực thuộc Thứ Bộ công an. Tại các Ty công an địa phương có Ban chấp pháp.
Tại công an Liên khu có ! Điều 2 Nghị định số 95/ND ngày 08/08/1947 của Bộ Nội vụ va Bộ Tư pháp. Oai tre ata điều twa diêu trong điều tra vou du hiah sự Phòng chấp pháp. Luc lượng làm công tác chấp pháp từ trung ương đến địa phương có hai nhiệm vụ cơ bản: Thứ nhất, điều tra, lập hồ sơ, đê nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và tội phạm hình sự khác. Thứ hai, quản trị các trại giam (Lao cải).
Cũng trong năm 1953 Hội đồng Chính phủ đã quyết định đổi Thứ Bộ công an thành Bộ Công an. Sau khi giải phóng miền Bắc (1954) công tác cải tạo nguy quân, nguy quyền và các phần tử phản cách mạng hết sức quan trọng và cấp bách. Công tác quản lý giáo dục cải tạo các đối tượng nói trên cần phải được mở rộng. Vì vậy, ngày 17/02/1955, Bộ Công an quyết định tách Vụ chấp pháp thành hai bộ phận: Phòng chấp pháp thuộc Vụ chấp pháp trở thành Phòng chấp pháp của Vụ bảo vệ chính trị.
Phòng quản lý trại giam của Vụ chấp pháp Vụ lao cải. thành Do yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm, cần thiết phải tách han Phòng chấp pháp thực hiện nhiệm vụ điều tra tố tụng khỏi Vụ bảo vệ chính trị chuyên làm công tác điều tra trinh sát để tránh những sai lầm có thể xảy ra. Tháng 4 năm 1957, Bộ Công an đã quyết định đưa Phòng chấp pháp tách khỏi Vụ bảo vệ chính trị, trực thuộc Bộ. Tại các khu thành lập Phòng chấp pháp và ban chấp pháp trực thuộc Ban giám đốc công an khu.
Việc tách phòng chấp pháp khỏi bộ phận bảo vệ chính trị đã tạo điều kiện cho Bộ chỉ đạo việc tuân theo pháp luật trong công tác bắt, giam giữ xử lý người phạm (61. Sau 2 năm thực hiện nhiệm vụ điều tra tố tụng đối với các vụ án phan cách mạng và tội phạm hình sự khác, nếu cứ để đơn vị phòng chấp pháp thì không thể đáp ứng được nhiệm vụ được giao và không phù hợp với tổ chức của Bộ Công an. Ngày 28/08/1959, trong Công văn số 806 của Bộ Công an gửi các ban ngành, các địa phương thông báo kể từ ngày 01/09/1959, Phòng chấp pháp thuộc Bộ đổi thành Vu chấp pháp và lấy bí danh là Vụ 4. Kể từ năm 1959 trở đi, lực lượng chấp pháp thực hiện độc lập công tác điều tra công khai theo pháp luật tố tụng hình sự đối với những vụ án phản cách mạng và các vụ án hình sự khác.