CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VE VỊ TRÍ, VAI TRÒ CUA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm luật sư Quyền bào chữa có lịch sử phát triển từ lâu đời, xuất hiện đầu tiên ở Châu Âu gắn liền với sự ra đời của Tòa án, theo đó người biện hộ xuất hiện đồng thời với thâm phán. Khi tổ chức Tòa án hình thành ở nhà nước Hy Lạp cổ, nguyên cáo hoặc bị cáo được phép nhờ người thân bào chữa cho mình trước Tòa án. Hoạt động bào chữa bắt đầu phát triển vào giai đoạn cuối của nền cộng hòa thứ IV trước công nguyên bằng việc người đi kiện biết nhờ người thân bào chữa cho mình.
Vì hoạt động bào chữa này nhằm minh oan cho những người bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán, bảo vệ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên nhận được sự đồng tình ủng hộ rất lớn từ phía nhân dân, thu hút được nhiều người tham gia bào chữa tại Tòa án [32, trang 9]. Chế độ La Mã tan rã, châu Âu chim trong “đêm trường trung cổ”, lúc này Tòa án và hoạt động biện hộ chủ yếu phục vụ tôn giáo và chế độ phong kiến. Nghề biện hộ không còn giữ nguyên giá trị ban đầu, những người hành nghề chịu ảnh hưởng của thế lực đồng tiền và áp lực của chế độ phong kiến đã không còn là những “hiệp sỹ” bảo vệ công lý chân chính. Đến thời kỳ tư bản, nghề luật sư trở thành nghề kiếm tiền, có hình thức tổ chức chặt chẽ hơn với những điều kiện khắt khe hơn mà chỉ một số it người xuất thân từ giai cấp thống tri, tầng lớp giàu có mới có thê đáp ứng được.
Cùng với sự tiến lên của xã hội, nghề luật sư ngày càng phát triển trở thành một nghề tự do và được điều chỉnh bởi pháp luật của nhà nước. Lịch sử nghé biện hộ ở mỗi quốc gia gắn liền với chế độ chính trị đồng thời phục vụ quyền lợi của chính giai cấp thống trị ở quốc gia này. Trên thế giới, ở một số nước, xuất phát chủ yếu từ thông lệ, phong tục tập quán mà luật sư được chia thành luật sư biện hộ và luật sư tư van (điển hình là Anh, Úc). Sự phân chia này tạo điều kiện để luật sư tư vấn thực hiện nhiều công việc theo yêu cầu của khách hàng không liên quan đến những công việc tại Tòa án và giúp cho luật sư biện hộ giữ vi trí vững vàng, ôn định tại Tòa án, tập trung được vào công việc tại Tòa án.
Tuy nhiên, đa số các nước không phân chia như vậy, một số nước sáp nhập hai loại luật sư (đặc trưng là Pháp, Đức) hoặc nếu có sự phân chia thì sự phân chia đó không rõ ràng, một người đồng thời vừa là luật sư tư vẫn vừa là luật sư biện hộ (tiêu biểu như Mỹ, Singapore). Trong cơ chế thị trường, hoạt động luật su được coi là một loại dịch vụ nghề nghiệp được điều chỉnh bởi các đạo luật về hành nghề luật sư, về kinh doanh. Các nước theo hệ thống án lệ coi luật sư là một nghề kinh doanh đặc biệt còn các nước theo hệ thống luật thực định lại coi đây là một nghề tự do. Hệ thống pháp luật Pháp, Đức điển hình cho mô hình đa ngành nghề tư pháp của các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa, hoạt động luật sư ở hai nước này có rất nhiều điểm tương đồng như điều kiện trở thành luật sư, luật sư phải đăng ký ghi tên vào một Đoàn luật sư, luật sư có thé hành nghề độc lập hoặc theo nhóm, hội hoặc có thể ký hợp đồng lao động với các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh (luật sư làm thuê).
Là một nước tiêu biéu của hệ thống pháp luật án lệ, ở Anh, nghề luật sư bào chữa chiếm số lượng ít, có chức năng bảo vệ quyền lợi của thân chủ tại các Tòa án câp cao tôn tại song song với nghê luật sư tư vân chuyên soạn thảo văn bản, tư vẫn pháp luật, đại diện và bảo vệ quyền lợi của thân chủ tại các Tòa án cấp thấp. Ở Anh chỉ có một Đoàn luật sư duy nhất là Đoàn luật sư Luân - đôn. Mặc dù cũng là một nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ nhưng do đặc điểm riêng biệt như chế độ liên bang, sự đa dạng sắc tỘc, sự cường thịnh kinh tế. nên ở Mỹ lại hình thành mô hình một nghề luật sư thống nhất.
Luật sư hành nghề tự do, có thê hoạt động trong mọi lĩnh vực pháp luật và đây là độc quyền của luật sư, chỉ có sự cạnh tranh duy nhất giữa các luật sư với nhau nên hiệu quả các hoạt động pháp luật của luật sư Mỹ được đánh giá rất cao. Việt Nam thời kỳ thực dân phong kiến trước năm 1930, người Pháp gần như chiếm độc quyền hành nghề luật sư. Bằng Sắc lệnh ngày 25/5/1930, người Pháp thành lập Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn cho phép người Việt tham gia biện hộ với một số điều kiện như: tốt nghiệp đại học luật khoa, có thời gian tập sự năm năm tại một văn phòng biện hộ của luật sư, phải qua sát hạch của Hội đồng luật sư để được trở thành luật sư chính thức. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức Đoàn thé luật sư, t6 chức luật sư cũ được duy trì với một số điểm sửa đôi cho phù hợp với tình hình mới.
Tiếp đến là Sắc lệnh 69/SL ngày 18/6/1949 mở rộng tô chức bào chữa, cho phép công dân không phải là luật sư có thể bào chữa cho đương sự tại Tòa án về các việc hộ và thương mại, bào chữa cho bị cáo trước tòa xét xử về hình. Ngày 18/12/1987, Pháp lệnh Tổ chức luật sư được ban hành cụ thể hóa Hiến pháp năm 1980 tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam trong hoàn cảnh mới của đất nước, đã quy định tương đối hoàn chỉnh vê tô chức và hoạt động của luật sư. Điêu kiện gia nhập Doan luật sư phải là công dân Việt Nam có pham chat đạo đức tốt, tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương. Những người đang công tác tại các cơ quan như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công an, cơ quan tư pháp, cơ quan thanh tra nhà nước, trọng tài kinh tế, hải quan và các cơ quan nội chính của Đảng (không bao gồm những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật tại các viện nghiên cứu, các trường thuộc các cơ quan đó) không được gia nhập Đoàn luật sư.
Hoạt động tích cực của đội ngũ luật sư thời kỳ này đã giúp Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác làm rõ sự thật khách quan, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua các Đoàn luật sư, luật sư đã thực hiện chức năng giúp đỡ pháp lý cho các công dân, tổ chức; tham gia các vu án theo yêu cầu của co quan tiến hành tổ tung; giúp đỡ miễn phí hoặc giảm phí cho người nghèo, đối tượng chính sách. Bước sang thời kỳ mở rộng hợp tác quốc tế, luật sư nước ngoài đã được phép hành nghề tại Việt Nam, đặt ra yêu cầu đối với chế định luật sư phải được thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường theo hướng “đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư. phù hợp với chủ trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tô chức nghề nghiệp.
Đào tạo và phát triển độ ngũ luật sư có phâm chất dao đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn pháp luật và trong tố tụng” [1]. Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của đội ngũ luật sư chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong tình hình mới. Từ đây hoạt động luật sư chính thức được coi là một nghề cung cấp dịch vụ. Ngoài những điều kiện như Pháp lệnh Tổ chức luật sư 1987 đã quy định thì một người muốn trở thành luật sư phải không được là cán bộ, công chức, phải tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận (trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề) thé hiện sự chuyên nghiệp hóa đội ngũ luật sư.
Luật sư có quyền lựa chọn lĩnh vực hành nghề, được hành nghề trên toàn quốc và ở nước ngoài, được phép thỏa thuận thù lao khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng (trừ vụ án hình sự). Luật sư nước ngoài, chi nhánh văn phòng luật sư nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Tuy nhiên, luật sư nước ngoài không được tham gia tô tụng với tu cách là người bào chữa, người đại diện cho khách hàng tại Tòa án Việt Nam mà chỉ được tư vẫn pháp luật của nước nơi ho được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, tư van pháp luật quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại và không được tư vẫn pháp luật Việt Nam. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế xã hội vượt bậc, sự mở rộng hợp tác quốc tế toàn diện lại một lần nữa đặt ra yêu cầu đôi mới chế định luật sư của Việt Nam.
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI ngày 16/5 - 29/6/2006 thông qua Luật Luật sư có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 thay thế Pháp lệnh Luật sư là một bước tiến quan trong trong quá trình đổi mới và hoàn thiện thé chế về luật sư ở nước ta. Luật Luật sư kế thừa nội dung cơ bản của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đồng thời có những điểm mới rất quan trọng. Về hành nghề của luật sư, ngoài việc tham gia tố tụng, tư van pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác, Luật Luật sư còn cho phép luật sư được đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc liên quan đến pháp luật. Quy định này phù hợp với xu hướng mở rộng dân chủ, tạo cơ sở pháp lý cho người dân thực hiện quyền dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.