Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm hoạt động chứng minh của luật sư trong GĐXXST Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng “hoạt động” là “ làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong xã hội” ; “chứng minh ” là “Dùng lý lẽ suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng .” Như vậy theo nghĩa thông thường, hoạt động chứng minh của Luật sư được hiểu là hoạt động trí tuệ, tư duy hay thực tiễn của con người, có mục đích xác định sự tồn tại hay không tồn tại, hoặc là đúng sai của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở của những căn cứ, chứng cứ nhất định. Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp không vi phạm pháp luật để chứng minh sự thật của vụ án. Các sự việc xảy ra luôn để lại những “dấu vết” trong thế giới khách quan, được con người và môi trường vật chất phản ánh lại.
Quá trình chứng minh vụ án hình sự thực chất là quá trình con người nhận thức về sự kiện phạm tội đã xảy ra, thông qua việc thu thập, phân tích, đánh giá những thông tin về vụ án. Trong khoa học pháp lý hiện đang tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm chứng minh tố tụng hình sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng : “ Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện , các tình tiết vụ án hình sự”{63,tr.330} Quan điểm thứ hai cho rằng : “ Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện, các tình tiết vụ án thông qua các chứng cứ”{5,tr.164} 15 luan an Quan điểm thứ ba cho rằng : “ Chứng minh tội phạm là thu thập , kiểm tra , đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội ”{51,tr.161} Mỗi quan điểm nêu trên, đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định nhưng chưa nêu được đầy đủ các yếu tố của quá trình chứng minh trong TTHS như: chủ thể chứng minh, đối tượng chứng minh, phương tiện chứng minh và cơ sở pháp lý để tiến hành các hoat động chứng minh… Theo quan điểm của các tác giả giáo trình luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì quá trình chứng minh trong TTHS được hiểu như sau: “ Quá trình chứng minh là quá trình của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những người có quyền chứng minh dựa trên cơ sở các qui định của pháp luật TTHS,các thông tin tư liệu cần thiết nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn , khách quan vụ án”.183} Khái niệm trên đã chỉ ra được những đặc điểm thuộc về bản chất của quá trình chứng minh trong TTHS như chủ thể chứng minh, phương tiện chứng minh, thủ tục chứng minh, mục đích chứng minh và nội dung hoạt động của chứng minh. Xét xử vụ án hình sự nói chung, xét xử sơ thẩm nói riêng được coi là một giai đoạn quan trọng của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự “ Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo qui định của pháp luật”{53.343} Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi tòa án nhận hồ sơ cùng với bản cáo trạng ( hoặc quyết định truy tố bị can) do Viện kiểm sát chuyển đến và kết thúc vụ án khi Tòa án ra bản án.
Tính chất của giai đoạn xét xử sơ thẩm làm cho hoạt động chứng minh trong, giai đoạn này có những 16 luan an điểm khác biệt so với hoạt động chứng minh trong các giai đoạn tố tụng khác. Chức năng của Luật sư trong vụ án hình sự là “gỡ tội”, “ buộc tội” chức năng “gỡ tội” đối lập chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, để thực hiện chức năng gỡ tội cho bị cáo Luật sư phải thực hiện hoạt động chứng minh. Hoạt động chứng minh của Luật sư khác với viện kiểm sát, nếu như viện kiểm sát đưa ra chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo thì Luật sư đưa ra chứng cứ, chứng minh bị cáo không có tội hoặc chứng minh với việc đưa ra các tình tiết có lợi cho bị cáo, nhằm làm giảm tội cho bị cáo… Do vậy Luật sư muốn thực hiện việc chứng minh cho sự vô tội, giảm tội… của thân chủ thì phải có quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ nên Luật sư cần nghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng của hoạt động chứng minh, mục đích chứng minh, đối tượng, giới hạn của hoạt động chứng minh. Để có thể hình thành khái niệm đầy đủ, chính xác về hoạt động chứng minh cần làm rõ những vấn đề sau: Thứ nhất : Chủ thể chứng minh Chủ thể chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là kiểm sát viên, thẩm phán, và hội thẩm, người bào chữa.
Người tham gia tố tụng khác cũng tham gia vào các hoạt động chứng minh, do các chủ thể chứng minh tiến hành nhưng họ không không có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định của điều 10 BLTTHS năm 2003 thì “ Cơ quan điều tra , Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan , toàn diện và đầy đủ …Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can , bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Thẩm phán và hội thẩm tiến hành hoạt động chứng minh từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá các chứng cứ đã thu thập được trong các giai đoạn trước đó, hoạt động kiểm tra đánh giá 17 luan an chứng cứ là hoạt động độc lập của từng thành viên, hội đồng xét xử thẩm phán và hội thẩm trong hội đồng xét xử độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận về vụ án. Kiểm sát viên cũng có trách nhiệm chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự khi tham gia phiên tòa để thực hiện chứng năng buộc tội và kiểm sát hoạt động xét xử, kiểm sát viên có quyền yêu cầu HĐXX triệu tập thêm người làm chứng và yêu cầu đưa thêm vật chứng vào tài liệu xem xét.
Thông qua hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, kiểm sát viên phải kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng minh cho những tình tiết liên quan đến việc buộc tội được dùng làm căn cứ cho quan điểm luận tội của mình. Luật sư là người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia theo TTHS, Luật sư tham gia nghiên cứu hồ sơ, phát hiện sai sót, vi phạm trong quá trình tố tụng, tham gia tranh luận làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Thứ hai : Phương tiện chứng minh Tội phạm là một hiện tượng tồn tại khách quan, trong mối quan hệ tác động qua lại với các sự vật khác. Khi các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập và chứng minh một cách hợp pháp và sử dụng để làm sáng tỏ sự thật của vụ án thì chúng trở thành chứng cứ trong vụ án hình sự.
Về bản chất, chứng cứ chính là những thông tin phản ánh hành vi phạm tội, những thông tin này chứa đựng bằng những hình thức khác nhau mà khoa học luật TTHS gọi là nguồn chứng cứ “ Chứng cứ là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự” + Chứng cứ có các thuộc tính sau: 18 luan an - Tính khách quan : “ Chứng cứ là những gì có thật ” tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Các thông tin, tài liệu, đồ vật về vụ án đã làm sai lệch không phản ánh đúng hiện thực khách quan thì không phải là chứng cứ, tính khách quan là thuộc tính không thể thiếu của chứng cứ bởi sự thật được sử dụng để thực hiện điều đó phải đảm bảo tính khách quan. - Tính liên quan : Những thông tin, tài liệu, đồ vật dù có thật nhưng không có liên quan đến vụ án thì không được coi là chứng cứ. Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở việc chứng cứ đó trực tiếp hoặc gián tiếp xác định các tình tiết của đối tượng chứng minh.
Chỉ những thông tin, tài liệu, đồ vật được “ Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ án ” mới liên quan đến vụ án. - Tính hợp pháp : Tính hợp pháp của chứng cứ, đòi hỏi chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra đánh giá theo trình tự, thủ tục luật định và phải được xác định bằng nguồn tương ứng theo qui định của pháp luật. + Chứng cứ được xác định bằng những nguồn sau : - Vật chứng : Là vật thể chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS qui định : - Lời khai, lời trình bày : Là lời trình bày của những người tham gia tố tụng về những tình tiết có liên quan đến vụ án. - Dữ liệu điện tử : là các phương tiện để ghi âm ghi hình có liên quan trực tiếp tới vụ án - Kết luận giám định, định giá tài sản “ là đánh giá cụ thể bằng văn bản của người có trình độ chuyên môn về vấn đề khoa học, kỹ thuật tương ứng 19 luan an liên quan đến vụ án hình sự được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu” đây là nguồn chứng cứ quan trọng có giá trị chứng minh cao nhất.