Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm. Khái niệm hồ sơ vụ án hình sự Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về hồ sơ vụ án hình sự, tuy nhiên dựa trên những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì hồ sơ vụ án hình sự được lập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, trong đó nội dung của hồ sơ vụ án chính là nội dung của các vản bản, tài liệu được tập hợp trong hồ sơ. Mỗi tài liệu sẽ phản ánh một hoặc nhiều vấn đề trong vụ án và các tài liệu này có quan hệ mật thiết với nhau để phản ánh nội dung vụ án.
Khi các văn bản, tài liệu đã được đưa vào hồ sơ vụ án thì sẽ là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án sử dụng để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện. Các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án hình sự sẽ được hình thành từ khi bắt đầu có quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can do cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định, sau đó sẽ được Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp phê chuẩn. Khi tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm, thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiến hành việc xác minh, kiểm tra tính đúng đắn của nguồn tin để từ đó ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự, trong trường hợp xác định có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì vụ án sẽ được khởi tố. Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì hoạt động điều tra, thu thập và đánh giá chứng cứ để chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra và ai là người thực hiện hành vi phạm tội sẽ được tiến hành.
Nếu có đủ căn cứ pháp lý để 7 xác định có hành vi phạm tội xảy ra và người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ ban hành bản kết luận điều tra, hoàn thiện hồ sơ vụ án và chuyển sang cho VKSND cùng cấp đề nghị truy tố đối với bị can về tội danh cụ thể. Còn trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để việc khởi tố vụ án hình sự hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan cảnh sát điều tra phải ban hành quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp xác định được người thực hiện hành vi phạm tội nhưng người đó lại mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có chứng nhận của Hội đồng chứng nhận y khoa trong trường hợp không thể xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ phải banh hành quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sẽ thấy rõ các hoạt động của cơ quan điều tra đã tiến hành như việc ban hành các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định truy nã; xác minh lý lịch bị can; tiến hành lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng khác; vẽ sơ đồ hiện trường; lập biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường … ra bản kết luận điều tra.
Khi hoàn tất hồ sơ thì cơ quan điều tra tiến hành bàn giao hồ sơ và đề nghị VKS cùng cấp truy tố. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án do cơ quan cảnh sát điều tra cùng cấp chuyển đến thì tùy từng trường hợp mà VKS phải ban hành một trong các quyết định như: Nếu không đủ căn cứ để truy tố bị can theo tội danh, điều khoản bị khởi tố hoặc còn có người khác thực hiện hành vi phạm tội hoặc bị can còn phạm tội khác ngoài tội danh bị khởi tố thì VKS phải thực hiện việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; trong trường hợp có đủ căn cứ để đình chỉ vụ án thì VKS phải ban hành quyết định đình chỉ vụ án hoặc trong trường hồ sơ đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can thì VKS phải ban hành Cáo trạng để truy tố bị can ra trước Tòa án. Những quyết định này được ban 8 hành tất cả đều dựa trên cơ sở là những tài liệu, chứng cứ mà đã được cơ quan cảnh sát điều tra thu thập theo đúng trình tự quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và được đưa vào hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra. Khi chuyển hồ sơ cho Tòa án để xét xử thì mọi thủ tục tố tụng cũng chỉ căn cứ vào hồ sơ vụ án, Tòa án nghiên cứu hồ sơ và có thể ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho VKS, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hình sự hoặc ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa xét xử vụ án.
Với quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) đồng thời đảm bảo chính xác cho việc áp dụng pháp luật thì việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định như cơ quan điều tra tiến hành việc xác minh lý lịch bị can thì bắt buộc phải dán ảnh của bị cán vào tờ lý lịch bị can; sau khi có quyết định khởi tố bị can thì cơ quan điều tra phải lập danh bản, chỉ bản của bị can trong đó thể hiện đầy đủ bản ảnh bị can, thông tin lý lịch bị can, ngày tháng năm bị bắt, nhân thân… để khi chuyển hồ sơ cho VKS, Tòa án thực hiện việc thẩm vấn công khai, có sự đối chiếu, so sánh làm căn cứ để nhận diện đúng người được đưa ra xét xử và người có tên trong hồ sơ có phải là một người hay không để tránh trường hợp xét xử một người khác không phải là người đã thực hiện hành vi phạm tội, tránh xét xử oan, nhầm lẫn hay bỏ lọt tội phạm. Như vậy, hồ sơ vụ án là tài liệu chính để cung cấp những thông tin, tình tiết cũng như diễn biến của vụ án. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán sẽ phát hiện kịp thời những vấn đề còn thiếu sót, chưa đủ căn cứ trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan cảnh sát điều tra, của VKSND cùng cấp để từ đó có những thông báo yêu cầu điều tra bổ sung hoặc ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nếu hồ sơ vụ án đã được thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo thì sẽ được đưa ra xét xử.
Đây là cơ sở để Hội đồng xét xử (HĐXX) ban hành một bản án công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. 9 Do vậy, có thể thấy hồ sơ vụ án hình sự là tập hợp hệ thống các văn bản, tài liệu, chứng cứ được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và được sắp xếp theo một trình tự nhất định để phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ tài liệu. Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung Thực tế hiện nay ở nước ta trong các quy định của pháp luật thì khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung chưa được quy định rõ ràng, cụ thể ở một văn bản pháp luật nào. Tại Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chỉ quy định căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời hạn chuẩn bị xét xử.
Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không quy định cụ thể căn cứ để HĐXX sơ thẩm yêu cầu điều tra bổ sung. Tuy nhiên, nghiên cứu tổng thể các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và qua thực tiễn áp dụng pháp luật thấy rằng Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cũng chính là căn cứ để HĐXX trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Đặc điểm của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm bao gồm: Thứ nhất, Chủ thể tiến hành hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung là Thẩm phán ( ở giai đoạn chuẩn bị xét xử) hoặc HĐXX ( tại phiên tòa). Thứ hai, Chủ thể tiếp nhận hồ sơ của Tòa án để điều tra bổ sung là VKS đã ra quyết định truy tố ( Bản Cáo trạng).
Thứ ba, Cơ sở pháp lý để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có các căn cứ được quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: - Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được. - Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự (BLHS) quy định là tội phạm. 10 - Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can. - Việc khởi tố, điều tra, truy tố có sự vi phạm nghiêm trọng về mặt thủ tục tố tụng.
Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng là nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tránh xử oan người vô tội cũng như việc bỏ lọt tội phạm.