Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG Ở GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự Điều 131 BLTTHS 2015, quy định: “1.
Khi tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, CQĐT phải lập HSVA. Hồ sơ vụ án gồm: a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; b) Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lập; c) Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo.
Thống kê tài liệu ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu (nếu có). Trường hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải có thống kê tài liệu bổ sung” [21]. Căn cứ theo quy định trên thì chưa có khái niệm cụ thể thế nào là hồ sơ vụ án mà chỉ có nêu những văn bản có trong hồ sơ vụ án. Nhưng qua Điều 131 BLTTHS năm 2015 có thể khái quát khái niệm hồ sơ vụ án hình sự như sau: Hồ sơ VAHS là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét 8 xử VAHS, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án và lưu trữ lâu dài.
Khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung Trả hồ sơ điều tra bổ sung là một chế định pháp luật được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nhằm khắc phục những vi phạm thiếu sót trong quy định tố tụng và bổ sung chứng cứ cần thiết, nhằm làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Về căn cứ pháp lý tại Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự (Viện kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung) và Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung) và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2017, ngày 22 tháng 12 năm 2017 của VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP [38]. Từ quá trình nghiên cứu thực tiễn có thể đưa ra khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung như sau: Cơ quan TAND hoặc VKSND là những chủ thể được giao thực hiện hoạt động THSĐĐTB, trong đó TAND trả HSVA cho VKSND, VKSND trả HSVA cho CQĐT nhằm đảm bảo việc xử điều tra, truy tố, xét xử các VAHS đúng người, đúng tội, không làm oan, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Việc trả hồ sơ chỉ được thực hiện khi vụ án hình sự thiếu chứng cứ quan trọng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc phạm tội khác nặng hơn tội phạm do Viện kiểm sát truy tố hoặc chưa tuân thủ đúng quy trình tố tụng của vụ án mà Viện kiểm sát không tự bổ sung được hoặc Tòa án không thể làm rõ được khi xét xử vụ án.
Khái niệm giai đoạn xét xử vụ án hình sự Xét xử các vụ án hình sự nói chung được hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ án nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của tội phạm cũng như người phạm tội, từ đó nhân danh Nhà 9 nước đưa ra một phán quyết tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về toà án, trong đó, TAND tối cao, các TAND cấp cao có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những VAHS mà bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị theo quy định của PL tố tụng; phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực PL của TAND cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của PL tố tụng. Việc XXST các VAHS là 1 giai đoạn TTHS quan trọng được tiến hành dưới hình thức PTST để xem xét, phán xét, nhân danh NN đưa ra 1 phán quyết theo trình tự thủ tục của PL. Việc xét xử phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc luật định như Toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, xét xử tập thể, xét xử công khai, bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.
* Khái niệm xét xử sơ thẩm: Theo Từ điển Luật học năm 2006, xét xử được giải thích là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của VAHS, qua đó nhân danh NN đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái PL của VAHS. Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án [35, tr. Còn theo từ điển Luật học thì: XXST có nghĩa là lần đầu tiên đưa VAHS ra xét xử tại 1 TAND có thẩm quyền. Như vậy, có thể hiểu: Xét xử sơ thẩm là hoạt động lần đầu tiên Tòa án xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố, từ đó đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của hành vi phạm tội.
Theo Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm được hiểu là một giai đoạn tố 10 tụng bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ do Viện kiểm sát cùng cấp chuyển sang và Tòa án vào sổ thụ lý cho đến khi ra phán quyết bằng bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm (văn bản áp dụng pháp luật). Theo đó, việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được chia thành các bước sau: - Giai đoạn chuẩn bị XXST các VAHS: đây là giai đoạn TP và TKTA chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa VAHS ra XXST theo quy định của PL hình sự. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử (Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015), Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa tiến hành áp dụng pháp luật và phải ra một trong những quyết định (văn bản áp dụng pháp luật) như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử (điểm a khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (điểm b khoản 1 Điều 277 và 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (điểm c khoản Điều 277 và các Điều 281-282 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 [21]. - Giai đoạn XXST các VAHS tại phiên tòa: Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động để chuẩn bị cho việc áp dụng pháp luật như thẩm tra và đánh giá lại toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, xác minh trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; trên cơ sở đó Tòa án ra bản án, quyết định (Điều 299 BLTTHS năm 2015) tuyên bố một người có tội hay không có tội, tội phạm và hình phạt được quy định tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự, từ đó Tòa án ra các phán quyết theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết toàn diện vụ án, và đây chính là văn bản áp dụng pháp luật.
Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập, những phán quyết của Tòa án ngoài việc dựa trên những chứng cứ, tài liệu được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập còn phải dựa vào kết quả xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa. Do đó, 11 hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các giai đoạn áp dụng pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ việc nhận hồ sơ, chuẩn bị xét xử đến quá trình xét xử tại phiên tòa. Theo Điều 27 BLTTHS 2015 thì “Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử”, cụ thể là chế độ xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm hình sự, trong đó XXST là trọng tâm và có vai trò quan trọng trong hoạt động của Tòa án, TAND có thẩm quyền XXST là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự Trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm là một chế định pháp lý được quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
TP chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm; c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can; d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định” [21]. Trường hợp kết quả ĐTBS dẫn tới việc đình chỉ VAHS thì VKSND ra quyết định đình chỉ VAHS và thông báo cho TAND trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả ĐTBS dẫn tới phải thay đổi bản Cáo trạng thì Viện kiểm sát sẽ ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.