Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận thủ đức thành phố hồ chí minh

Chuyên khảo phân tích Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận thủ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2021

80
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG Ở GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1. Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1.1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự
1.1.1.2. Khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung

1.1.2. Khái niệm giai đoạn xét xử vụ án hình sự

1.1.2.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Trả Hồ Sơ Điều Tra Bổ Sung Thủ Đức

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một chế định quan trọng trong tố tụng hình sự. Chế định này được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhằm khắc phục những vi phạm, thiếu sót trong quy trình tố tụng và bổ sung chứng cứ cần thiết. Mục đích là làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Việc này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại các Tòa án, như TAND quận Thủ Đức. Theo Điều 245 và 280 BLTTHS, việc trả hồ sơ phải dựa trên căn cứ pháp lý rõ ràng, được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2017. Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án và lưu trữ lâu dài.

1.1. Khái Niệm Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Theo BLTTHS

Điều 131 BLTTHS 2015 quy định về hồ sơ vụ án. Hồ sơ bao gồm lệnh, quyết định, biên bản tố tụng, chứng cứ và tài liệu liên quan. Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo. Thống kê tài liệu ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu. Trường hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải có thống kê tài liệu bổ sung. Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án và lưu trữ lâu dài.

1.2. Định Nghĩa Trả Hồ Sơ Điều Tra Bổ Sung Trong Tố Tụng

Trả hồ sơ điều tra bổ sung là một chế định pháp luật được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nhằm khắc phục những vi phạm thiếu sót trong quy định tố tụng và bổ sung chứng cứ cần thiết, nhằm làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Về căn cứ pháp lý tại Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự (Viện kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung) và Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung) và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2017, ngày 22 tháng 12 năm 2017 của VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP.

1.3. Giai Đoạn Xét Xử Vụ Án Hình Sự Định Nghĩa và Vai Trò

Xét xử các vụ án hình sự nói chung được hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ án nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của tội phạm cũng như người phạm tội, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về toà án, trong đó, TAND tối cao, các TAND cấp cao có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những VAHS mà bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị theo quy định của PL tố tụng; phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực PL của TAND cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của PL tố tụng.

II. Căn Cứ Pháp Lý Điều Kiện Trả Hồ Sơ Thủ Đức

Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không phải là một thủ tục tùy ý. Nó phải dựa trên những căn cứ pháp lý và điều kiện cụ thể được quy định trong Luật Tố tụng Hình sự. Các điều kiện này bao gồm việc thiếu chứng cứ quan trọng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc phạm tội khác nặng hơn tội phạm do Viện kiểm sát truy tố, hoặc chưa tuân thủ đúng quy trình tố tụng. Tòa án chỉ trả hồ sơ khi Viện kiểm sát không tự bổ sung được hoặc Tòa án không thể làm rõ được khi xét xử vụ án. Việc áp dụng đúng các quy định này là yếu tố then chốt để đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xét xử sơ thẩm tại quận Thủ Đức.

2.1. Các Trường Hợp Cụ Thể Được Trả Hồ Sơ ĐTBS

Việc trả hồ sơ chỉ được thực hiện khi vụ án hình sự thiếu chứng cứ quan trọng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc phạm tội khác nặng hơn tội phạm do Viện kiểm sát truy tố hoặc chưa tuân thủ đúng quy trình tố tụng của vụ án mà Viện kiểm sát không tự bổ sung được hoặc Tòa án không thể làm rõ được khi xét xử vụ án.

2.2. Vai Trò Của Viện Kiểm Sát Trong Quá Trình Điều Tra

Cơ quan TAND hoặc VKSND là những chủ thể được giao thực hiện hoạt động THSĐĐTB, trong đó TAND trả HSVA cho VKSND, VKSND trả HSVA cho CQĐT nhằm đảm bảo việc xử điều tra, truy tố, xét xử các VAHS đúng người, đúng tội, không làm oan, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

2.3. Thẩm Quyền và Trách Nhiệm Của Tòa Án Trong Xét Xử

Việc XXST các VAHS là 1 giai đoạn TTHS quan trọng được tiến hành dưới hình thức PTST để xem xét, phán xét, nhân danh NN đưa ra 1 phán quyết theo trình tự thủ tục của PL. Việc xét xử phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc luật định như Toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, xét xử tập thể, xét xử công khai, bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo .

III. Thực Trạng Trả Hồ Sơ ĐTBS Tại TAND Thủ Đức Phân Tích

Việc nghiên cứu thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại TAND quận Thủ Đức là cần thiết để đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật. Số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2020 cho thấy có những vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, gây kéo dài thời gian giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và đương sự. Phân tích nguyên nhân của tình trạng này, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan, là cơ sở để đề xuất các giải pháp khắc phục. Cần xem xét kỹ lưỡng các quyết định trả hồ sơ để xác định có sự lạm dụng hay không, và đánh giá tính hợp lý của các yêu cầu điều tra bổ sung.

3.1. Thống Kê Số Lượng Vụ Án Trả Hồ Sơ 2016 2020

Số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2020 cho thấy có những vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, gây kéo dài thời gian giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và đương sự.

3.2. Đánh Giá Tính Hợp Lý Của Quyết Định Trả Hồ Sơ

Cần xem xét kỹ lưỡng các quyết định trả hồ sơ để xác định có sự lạm dụng hay không, và đánh giá tính hợp lý của các yêu cầu điều tra bổ sung.

3.3. Ảnh Hưởng Của Việc Trả Hồ Sơ Đến Thời Gian Giải Quyết

Việc nghiên cứu thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại TAND quận Thủ Đức là cần thiết để đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật. Số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2020 cho thấy có những vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, gây kéo dài thời gian giải quyết.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xét Xử Thủ Đức

Để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm và hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không cần thiết, cần có các giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm nâng cao năng lực của Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện quy trình thu thập, đánh giá chứng cứ; và tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo và quyền của người bị hại. Việc áp dụng các giải pháp này sẽ góp phần đảm bảo tính công bằng, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự tại quận Thủ Đức.

4.1. Nâng Cao Năng Lực Của Cán Bộ Tố Tụng Hình Sự

Các giải pháp này bao gồm nâng cao năng lực của Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện quy trình thu thập, đánh giá chứng cứ; và tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng.

4.2. Hoàn Thiện Quy Trình Thu Thập và Đánh Giá Chứng Cứ

Các giải pháp này bao gồm nâng cao năng lực của Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện quy trình thu thập, đánh giá chứng cứ; và tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng.

4.3. Tăng Cường Kiểm Tra Giám Sát Hoạt Động Tố Tụng

Các giải pháp này bao gồm nâng cao năng lực của Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; hoàn thiện quy trình thu thập, đánh giá chứng cứ; và tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Thủ Đức

Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm tại TAND quận Thủ Đức. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các quy trình, hướng dẫn cụ thể cho Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên. Đồng thời, nó cũng cung cấp cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

5.1. Xây Dựng Quy Trình Hướng Dẫn Cụ Thể Cho Cán Bộ

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các quy trình, hướng dẫn cụ thể cho Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên.

5.2. Đề Xuất Sửa Đổi Bổ Sung Quy Định Pháp Luật

Đồng thời, nó cũng cung cấp cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

5.3. Bảo Vệ Quyền và Lợi Ích Hợp Pháp Của Công Dân

Việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Thủ Đức

Nghiên cứu về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong xét xử sơ thẩm tại quận Thủ Đức đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn, như tác động của việc trả hồ sơ đến tâm lý của bị can, bị cáo; hoặc so sánh thực tiễn trả hồ sơ giữa các quận, huyện khác nhau. Các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người.

6.1. Tác Động Tâm Lý Của Việc Trả Hồ Sơ Đến Bị Can

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn, như tác động của việc trả hồ sơ đến tâm lý của bị can, bị cáo.

6.2. So Sánh Thực Tiễn Trả Hồ Sơ Giữa Các Quận Huyện

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn, như tác động của việc trả hồ sơ đến tâm lý của bị can, bị cáo; hoặc so sánh thực tiễn trả hồ sơ giữa các quận, huyện khác nhau.

6.3. Giải Pháp Sáng Tạo Nâng Cao Hiệu Quả Tố Tụng

Các nghiên cứu tương lai cần tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người.

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG Ở GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự Điều 131 BLTTHS 2015, quy định: “1.

Khi tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, CQĐT phải lập HSVA. Hồ sơ vụ án gồm: a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; b) Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lập; c) Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo.

Thống kê tài liệu ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu (nếu có). Trường hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải có thống kê tài liệu bổ sung” [21]. Căn cứ theo quy định trên thì chưa có khái niệm cụ thể thế nào là hồ sơ vụ án mà chỉ có nêu những văn bản có trong hồ sơ vụ án. Nhưng qua Điều 131 BLTTHS năm 2015 có thể khái quát khái niệm hồ sơ vụ án hình sự như sau: Hồ sơ VAHS là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét 8 xử VAHS, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án và lưu trữ lâu dài.

Khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung Trả hồ sơ điều tra bổ sung là một chế định pháp luật được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nhằm khắc phục những vi phạm thiếu sót trong quy định tố tụng và bổ sung chứng cứ cần thiết, nhằm làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Về căn cứ pháp lý tại Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự (Viện kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung) và Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung) và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2017, ngày 22 tháng 12 năm 2017 của VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP [38]. Từ quá trình nghiên cứu thực tiễn có thể đưa ra khái niệm trả hồ sơ điều tra bổ sung như sau: Cơ quan TAND hoặc VKSND là những chủ thể được giao thực hiện hoạt động THSĐĐTB, trong đó TAND trả HSVA cho VKSND, VKSND trả HSVA cho CQĐT nhằm đảm bảo việc xử điều tra, truy tố, xét xử các VAHS đúng người, đúng tội, không làm oan, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Việc trả hồ sơ chỉ được thực hiện khi vụ án hình sự thiếu chứng cứ quan trọng, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc phạm tội khác nặng hơn tội phạm do Viện kiểm sát truy tố hoặc chưa tuân thủ đúng quy trình tố tụng của vụ án mà Viện kiểm sát không tự bổ sung được hoặc Tòa án không thể làm rõ được khi xét xử vụ án.

Khái niệm giai đoạn xét xử vụ án hình sự Xét xử các vụ án hình sự nói chung được hiểu là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ án nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của tội phạm cũng như người phạm tội, từ đó nhân danh Nhà 9 nước đưa ra một phán quyết tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về toà án, trong đó, TAND tối cao, các TAND cấp cao có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những VAHS mà bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị theo quy định của PL tố tụng; phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực PL của TAND cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của PL tố tụng. Việc XXST các VAHS là 1 giai đoạn TTHS quan trọng được tiến hành dưới hình thức PTST để xem xét, phán xét, nhân danh NN đưa ra 1 phán quyết theo trình tự thủ tục của PL. Việc xét xử phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc luật định như Toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, xét xử tập thể, xét xử công khai, bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.

* Khái niệm xét xử sơ thẩm: Theo Từ điển Luật học năm 2006, xét xử được giải thích là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của VAHS, qua đó nhân danh NN đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái PL của VAHS. Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án [35, tr. Còn theo từ điển Luật học thì: XXST có nghĩa là lần đầu tiên đưa VAHS ra xét xử tại 1 TAND có thẩm quyền. Như vậy, có thể hiểu: Xét xử sơ thẩm là hoạt động lần đầu tiên Tòa án xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố, từ đó đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của hành vi phạm tội.

Theo Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm được hiểu là một giai đoạn tố 10 tụng bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ do Viện kiểm sát cùng cấp chuyển sang và Tòa án vào sổ thụ lý cho đến khi ra phán quyết bằng bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm (văn bản áp dụng pháp luật). Theo đó, việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự được chia thành các bước sau: - Giai đoạn chuẩn bị XXST các VAHS: đây là giai đoạn TP và TKTA chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa VAHS ra XXST theo quy định của PL hình sự. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử (Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015), Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa tiến hành áp dụng pháp luật và phải ra một trong những quyết định (văn bản áp dụng pháp luật) như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử (điểm a khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (điểm b khoản 1 Điều 277 và 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (điểm c khoản Điều 277 và các Điều 281-282 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 [21]. - Giai đoạn XXST các VAHS tại phiên tòa: Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động để chuẩn bị cho việc áp dụng pháp luật như thẩm tra và đánh giá lại toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, xác minh trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; trên cơ sở đó Tòa án ra bản án, quyết định (Điều 299 BLTTHS năm 2015) tuyên bố một người có tội hay không có tội, tội phạm và hình phạt được quy định tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự, từ đó Tòa án ra các phán quyết theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết toàn diện vụ án, và đây chính là văn bản áp dụng pháp luật.

Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập, những phán quyết của Tòa án ngoài việc dựa trên những chứng cứ, tài liệu được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập còn phải dựa vào kết quả xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa. Do đó, 11 hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các giai đoạn áp dụng pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ việc nhận hồ sơ, chuẩn bị xét xử đến quá trình xét xử tại phiên tòa. Theo Điều 27 BLTTHS 2015 thì “Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử”, cụ thể là chế độ xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm hình sự, trong đó XXST là trọng tâm và có vai trò quan trọng trong hoạt động của Tòa án, TAND có thẩm quyền XXST là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự Trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm là một chế định pháp lý được quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

TP chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm; c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can; d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định” [21]. Trường hợp kết quả ĐTBS dẫn tới việc đình chỉ VAHS thì VKSND ra quyết định đình chỉ VAHS và thông báo cho TAND trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nếu kết quả ĐTBS dẫn tới phải thay đổi bản Cáo trạng thì Viện kiểm sát sẽ ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Việc Trả Hồ Sơ Để Điều Tra Bổ Sung Trong Xét Xử Sơ Thẩm Tại Quận Thủ Đức" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và tầm quan trọng của việc trả hồ sơ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định pháp lý liên quan mà còn chỉ ra những lợi ích của việc điều tra bổ sung, giúp đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xét xử. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ quy trình này có thể nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ hoạt động chứng minh của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh phú thọ, nơi phân tích vai trò của luật sư trong quá trình xét xử. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn quận thủ đức thành phố hồ chí minh cũng sẽ cung cấp cái nhìn về quyền lợi của nhóm đối tượng đặc biệt trong quá trình xét xử. Cuối cùng, tài liệu Vai trò của luật sư người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở việt nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về trách nhiệm và quyền hạn của luật sư trong bối cảnh pháp lý hiện tại. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến xét xử hình sự tại Việt Nam.