chương I, chương XII và các tội phạm quy định tại các điều 256, 257, 263,268 và 269 của Bộ luật hình sự"?). Thẩm quyền xét xử của Toà án được coi là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát. Mỗi vụ án có được xét xử tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào kết quả điều tra. Vì vậy, quy định thẩm quyền xét xử phải tính đến khả năng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp để có sự phù hợp về thẩm quyền giữa ba cơ quan tiến hành tố tụng.
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy khối lượng công việc của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cấp tỉnh quá nhiều (vừa xét xử sơ thẩm, vừa xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm). Vì thế các cơ quan này không đủ cán bộ để giải quyết hết công việc được giao, dẫn đến hiện tượng án bị tồn đọng từ năm này sang năm khác. Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao năm 1995 Toà án cấp tỉnh trong toàn quốc thụ lý 15659 vụ án nhưng mới xử được 12696 vụ, còn tồn đọng 2963 vụ. Đây là một số lượng vụ án không phải là nhỏ.
Còn đối với cấp huyện thì khả năng xét xử các vụ án hình sự ngày càng tốt hơn. Nếu như trước năm 1960 Toà án cấp huyện có ít thẩm phán và chỉ xử những vụ hình sự nhỏ có tính chất vi cảnh, thì sau năm 1960 Toà án cấp huyện đã xét xử những vụ án hình sự có thể xử phạt 2 năm tù trở xuống và sau này được xử cả tội nghiêm trọng có khung hình phạt 7 năm tù trở xuống. Kết quả xét xử của các Toà án cấp huyện cho thấy khả năng các Toà '* Xem: Các điều 9,15 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình su ngày 4 tháng 4 nam 1989. ¬HƯVIÊN - ve sere an | iy P ens Age de án này còn đảm nhiệm được khối lượng công việc nhiều hơn nữa.
Những thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trên chính là cơ sở để quy định thẩm quyền xét xử của Toà án cho chính xác. CĂN CU VÀO TRÌNH ĐỘ CHUYEN MON CUA THẤM PHÁN, HỘI THẤM NHÂN DÂN NÓI RIÊNG VÀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG NÓI CHUNG Để thực hiện nhiệm vụ "bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mang, tài san, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dan", các Toà án phải thực sự là người cầm cân nẩy mực, "trong công tác xử án phải công bằng liêm khiết trong sạch". Xã hội luôn đòi hỏi Toà án phải là biểu tượng của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải là nơi thể hiện bản chất của pháp luật, là nơi mọi người tìm thấy lẽ phải, sự công bằng, tính nhân đạo của pháp luật. Nơi ấy thiện, ác phải được phân biệt rõ ràng, cái thiện phải được bảo vệ, cái ác phải bị trừng tr; —~ n công lý không thể bị uốn cong.
Chỉ có đáp ứng được đòi hỏi đó Toà án mới thực sự là của dân, là Toà án nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vinh quang của mình, vấn đề hết sức quan trọng là Toà án phải có đội ngũ những người xét xử có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết trung thực, có kiến thức pháp lý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý. Trong những tiêu chuẩn đó, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngày 14/5/1993 quy định rõ về tiêu chuẩn chuyên môn phải có trình độ cao đẳng Toà án hoặc Đại học luật, có thời gian nhất định làm công tác pháp luật mới được bổ nhiệm làm Thẩm phán. Chỉ có một trình độ chuyên môn như thế người Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân mới độc lập trong xét xử, không chịu một tác động nào từ bên ngoài mà vẫn có niềm tin nội tâm để căn cứ vào pháp luật ra những phán quyết đúng đắn.
Trình độ chuyên môn cùng với những kinh nghiệm thu được từ thực °* Hồ Chí Minh, Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, Hà Nội 1985, tr. tế xét xử tạo thành năng lực của người Thẩm phán. Những vụ án càng nghiêm trọng, càng phức tạp càng đòi hỏi những người xét xử có trình độ, năng lực cao. Chính vì vậy khi tiêu chuẩn hoá chức danh Thẩm phán, Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã phân biệt Thẩm phán các cấp ở tiêu chuẩn thâm niên công tác và năng lực xét xử.
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự Trung ương phải có thời gian làm công tác pháp luật từ 8 năm trở lên, có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao; Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu phải có thời gian làm công tác pháp luật từ 6 năm trở lên, có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh, Toà án quân sự quân khu; Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, Toà án quân sự khu vực phải có thời gian làm công tác pháp luật từ 4 năm trở lên, có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án ND huyện, Toà án quân sự khu vực. Rõ ràng trình độ chuyên môn, năng lực của người Thẩm phán quan hệ khăng khít với thẩm quyền xét xử của từng cấp Toà án. Không thể giao cho những Thẩm phán trình độ chuyên môn thấp, năng lực yếu xét xử những vụ án nghiêm trọng, phức tạp. Khi quy định thẩm quyền xét xử phải căn cứ vào trình độ chuyên môn, năng lực xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ở từng cấp Toà án.
Tuy vậy không chỉ đơn thuần nhìn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán hiện tại, mà phải thấy được sự phát triển trong tương lai. Đó là khả năng của các cơ sở đào tạo luật có đáp ứng kịp yêu cầu đòi hỏi tiêu chuẩn hoá đội ngũ Thẩm phán hay không. Theo thống kê của Bộ tư pháp hiện nay trong số 2633 Thẩm phán được Chủ tịch nước bổ nhiệm vẫn còn hơn 30% Thẩm phán cấp tỉnh và 50% Thẩm phán cấp huyện còn "no" tiêu chuẩn về chuyên môn. Trong số đó có nhiều đồng chí đang theo học các lớp đại học luật tại chức.
Chỉ tính riêng số học viên đang học tại chức của Trường Đại học Luật Hà nội đến năm 1995 đã có tới trên 11.000 người, trong đó có nhiều Thẩm phán và cán bộ công tác tại Toà án và các cơ quan pháp luật theo học. Với những cố gắng trong việc đào tạo, trình độ chuyên độ của Thẩm phán được nâng lên rõ rệt. Nếu tính trong vòng 10 năm từ năm 1984 đến năm 1994 thì 19 năm 1984 chỉ có 106/445 Thẩm phán cấp tỉnh (chiếm 23,8%), 202/1547 Thẩm phán cấp huyện (chiếm 13%) có trình độ đại học luật đến năm 1994 đã có 423/493 Thẩm phán cấp tỉnh (chiếm 85%), 780/1824 Thẩm phán cấp huyện (chiếm 42,7%) có trình độ đại học luật”). Thời gian tới, khả năng đào tạo của Trường Đại học Luật và một số cơ sở đào tạo luật khác càng lớn.
Với khả năng đào tạo đó chỉ một thời gian không đài những Thẩm phán còn "nợ" về chuyên môn sẽ được đào tạo để có đủ tiêu chuẩn của Thẩm phán. Cùng với chức danh Thẩm phán, các chức danh điều tra viên, kiểm sát viên cũng được quy định rõ trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự ngày 4/4/1989 của Hội đồng Nhà nước và Pháp lệnh về kiểm sát viên ngày 12/5/ 1993 của Uy ban thường vụ Quốc hội. Đối với điều tra viên, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định có 3 bậc: cao cấp, trung cấp và sơ cấp; đối với kiểm sát viên, Pháp lệnh về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cũng quy định 3 bậc: kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát quân khu, và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện, Viện kiểm sát quân sự tỉnh, khu vực. Ứng với mỗi bậc điều tra viên, kiểm sát viên có các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau để các cán bộ này hoàn thành nhiệm vụ.
Hiện nay chúng ta đã có một đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên đông đảo từ trung ương đến địa phương. Việc tiêu chuẩn hoá các chức danh của những người tiến hành tố tụng là điều kiện cần thiết để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ. Căn cứ vào trình độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dan, kiểm sát viên, điều tra viên hiện tại và khả năng đào tạo trong tương lai cũng như năng lực công tác của họ mà thẩm quyền xét xử hình sự của Toà án các cấp được luật quy định cho phù hợp. °“ Xem: Để án đổi mới tổ chức và hoạt động của các Toà án nhân dân- Bộ tư pháp.
CAN CU VÀO MỐI LIÊN HỆ GIỮA THẤM QUYỀN XÉT XỬYVỚI CÁC CHẾ ĐỊNH KHÁC CUA TO TUNG HÌNH SỰ Trong tố tụng hình sự các chế định pháp lý có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Sự hình thành, phát triển của một chế định này luôn tác động đến những chế định khác. Là một chế định quan trọng của luật tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của Toà án có liên quan tới nhiều chế định khác. Khi thay đổi thẩm quyền xét xử sẽ tác động đến những chế định đó.
Sự tác động này có thể theo chiều thúc đẩy nhưng cũng có thể lại hạn chế việc thực hiện các chế định khác, như thẩm quyền điều tra, truy tố, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, sự có mặt của những người tham gia tố tụng khi được triệu tập, thời hạn trong tố tụng. Vì thế quy định thẩm quyền xét xử phải xem xét có thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố cũng như thực hiện các chế định khác hay không. Nếu một vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện nhưng được thay đổi thành thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh thì vụ án đó cũng sẽ thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra cấp tỉnh và thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát cấp tỉnh. Trường hợp này thực hiện các hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra sẽ khó khăn hơn.