Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Quy định của pháp luật về bảo đảm tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng nền văn minh nhân loại. Tranh tụng là nguyên tắc và cũng là cơ chế tố tụng có hiệu quả đảm bảo cho Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo công bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng. Hiện nay trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng.
Theo từ điển Tiếng Việt, thì “tranh tụng” có nghĩa là “sự kiện cáo nhau” [10, tr. Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng” có nghĩa là “tranh luận trong tố tụng” [32]. Đó là cuộc tranh luận giữa hai bên: “bên nguyên đơn và bên bị đơn có lập trường tương phản với nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử” [20]. Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong TTHS (bên buộc tội và bên bị buộc tội), mà giai đoạn đương đầu tại Tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm.
Theo đúng nghĩa, tranh tụng là việc bên buộc tội cố gắng làm sao thuyết phục Tòa án tin được rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội cố gắng và phải sử dụng mọi lý lẽ chứng cứ để bác bỏ lời buộc tội do bên buộc tội đưa ra. Và điều đáng lưu ý là trong hệ thống tố tụng tranh tụng gốc, Luật sư của bị cáo phải bảo vệ thân chủ bằng mọi giá. Theo Từ điển luật học, “tranh tụng” là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan 11 điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập. Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài [4, tr.
Vấn đề tranh tụng vẫn còn có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau. Đến nay, chúng ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể thế nào là “tranh tụng”. Bản chất và mục đích yêu cầu của tranh tụng là quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án, bảo đảm các phán quyết là đúng đắn và chính xác. Phiên tòa xét xử là cuộc điều tra công khai, thực hiện bằng lời nói gồm có phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần xét hỏi, phần tranh luận, nghị án và tuyên án.
Tranh luận là giai đoạn các bên trình bày luận điểm của mình về những vấn đề đã được thẩm tra làm rõ ở giai đoạn trước, trên cơ sở đối chiếu với những quy định của pháp luật đề xuất hướng xử lý phù hợp. Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội, tranh luận đối đáp về những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác đưa ra; và ngược lại bị cáo hoặc người bào chữa trình bày lời bào chữa, ý kiến phản bác đối với luận tội, đối đáp các ý kiến của kiểm sát viên và chủ thể khác có liên quan. Hội đồng xét xử là “trọng tài” điều hành việc tranh luận, đối đáp theo trình tự tố tụng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Như vậy, quá trình tranh tụng được tiến hành thông qua hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án với ba chức năng tương ứng: buộc tội, bào chữa và xét xử.
Thực hiện tranh tụng trong xét xử còn là cách thức nâng cao nhận thức, tạo ra môi trường dân chủ bình đẳng trong quan hệ tố tụng, buộc các chủ thể có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử nâng cao năng lực, trình độ, hạn chế được chủ quan, duy ý chí trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần 12 rất quan trọng để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai. Đồng thời, đây cũng là cách thức mà nền tư pháp tham gia bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hữu hiệu nhất. Như vậy có thể khái quát định nghĩa về tranh tụng như sau: Tranh tụng là hoạt động của các bên tham gia tố tụng đưa ra các quan điểm, chứng cứ để lập luận, đối đáp lẫn nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình, làm sáng tỏ sự thật của vụ án, từ đó là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, đưa ra phán quyết cuối cùng, bảo đảm tính khách quan, công bằng. Theo Từ điển tiếng Việt, “bảo đảm” là tạo điều kiện cần thiết để thực hiện được những nguyên tắc, bảo đảm theo nghĩa chung nhất là “làm cho chắc chắn thực hiện được những gì cần thiết, là trách nhiệm của mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, giữ gìn”.
Trong suốt quá trình tranh tụng, các bên có thể liên tục trao đổi những lập luận, những chứng cứ và lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, nhưng cũng có khi một bên im lặng lắng nghe đối phương trình bày để nghiên cứu và đưa ra lập luận của mình nhằm chiếm ưu thế. Bảo đảm tranh tụng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia tố tụng không thể thực hiện được khi chỉ có một bên nào đó hoặc chỉ có một bên nào đó hoặc chỉ có cơ quan chức năng phát hiện có tội phạm; bảo đảm cho các bên có thể chủ động dùng các phương tiện pháp luật cho phép để thu nhập và xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, chủ động xác định các vấn đề cần tìm hiểu, cần phải làm rõ để thuyết phục Tòa án. Tranh tụng tạo điều kiện và cơ hội ngang nhau cho các bên trình bày quan điểm, lý lẽ và phần tranh luận của mình tại phiên tòa. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Bảo đảm tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự là tạo các điều kiện cần và đủ để các bên tham gia tố tụng đưa ra các quan điểm, chứng cứ để lập luận, đối đáp lẫn nhau nhằm 13 bảo vệ quyền và lợi ích của mình, làm sáng tỏ sự thật của vụ án, từ đó là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, đưa ra phán quyết cuối cùng, bảo đảm tính khách quan, công bằng.
Từ khái niệm trên có thể thấy bảo đảm tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, Tòa án là chủ thể bảo đảm tranh tụng trong xét xử, bảo đảm cho bên buộc tội và bên gỡ tội các điều kiện tốt nhất để tranh tụng. Hệ tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng triệt để nguyên tắc tranh tụng. Theo nguyên tắc này thì trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử. Ba chức năng này đan quyện qua lại với nhau và trong sự thống nhất của mình, chúng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án.
Thiếu một trong ba chức năng nêu trên, tranh tụng trong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó. Có ý kiến cho rằng quá trình tranh tụng bắt đầu không chỉ từ giai đoạn khởi tố vụ án mà cả các giai đoạn trước khởi tố và quá trình này sẽ kết thúc khi vụ án được xét xử xong (xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), thậm chí quá trình này lại còn được tiếp tục trong một số trường hợp khi bản án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại. Những người đồng tình với ý kiến này cho rằng: “Tranh tụng là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án đồng thời cũng là phương tiện để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra của tố tụng hình sự”. Tác giả cho rằng quan điểm này chưa có đầy đủ cơ sở để thuyết phục.
Bởi lẽ việc tranh tụng trong điều kiện mà ở đó chỉ có chủ thể của hai bên buộc tội và bào chữa tham gia, các chức năng buộc tội và bào chữa mới chỉ được hai bên thực hiện một cách đơn phương theo ý chí chủ quan của mình là phiến diện, không chính thức… Quá trình tranh tụng ở đây còn thiếu một chủ thể giữ vai trò quyết định đó là Tòa án với chức năng xét xử. Theo tác giả, mặc dù tranh tụng xuất hiện ở 14 nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình tiến hành tố tụng. Tuy nhiên tranh tụng chỉ thực sự được tiến hành đầy đủ và rõ nét nhất là khi có sự hiện diện đầy đủ các bên buộc tội, bên bào chữa dưới sự kiểm tra, giám sát của Tòa án… Do đó trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ chỉ đề cập tranh tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, đặc biệt chú trọng quá trình tố tụng tại phiên tòa. Tại đây, với sự có mặt đầy đủ các chủ thể, quá trình tranh tụng được tiến hành thông qua hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án với ba chức năng tương ứng: buộc tội, bào chữa và xét xử.
Tuy nhiên ở đây cần chú ý rằng để tiến hành được việc tranh tụng và tranh tụng có hiệu quả các bên cần phải có thời gian và các điều kiện cần thiết để thu thập các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết của vụ án trước khi bước vào cuộc tranh tụng.