Chương 1: Một số vấn đề chung về tranh tụng trong tố tung dân sự. - Chương 2: Trình tự thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. - Chương 3: Thực tiễn của việc tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và một số kiến nghi. ® Phần kết luận tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, khẳng định lại ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng đân sự và các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự.
Trang 9 CHUONG 1 MOT SO VGN DE CHUNG VE TRANH TUNG TRONG TO TUNG DâN Sự 1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CUA TRANH TUNG TRONG TO TUNG DAN SỰ 1. Khái niệm tranh tụng trong t6 tụng dân sự Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng.
Loại tố tụng này được áp dụng tại Hy lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thú tục hỏi đáp liên tục” [21, tr. Trong thời La Mã, loại hình tố tụng xuất hiện sớm nhất là tố tụng theo nghỉ thức (legisactiones). Theo Luật XII bảng, để bắt đầu xét xử, các bên phải có mặt trước quan chấp chính. Trước quan chấp chính, các bên nguyên và bên bị phải phát ngôn theo quy định về câu chữ và những hành vi tượng trưng.
Kết thúc trình tự xét xứ này là litis contestatio (thụ lý tranh chấp có người làm chứng) hoặc là sự khẳng định đối tượng tranh chấp trước các nhân chứng và chuyển tranh chấp cho quan tòa giải quyết, sau đó quan tòa sẽ xét xử với sự có mặt của các bên và nhân chứng. Tại đây, chứng cứ mà các bên đương sự nêu ra được thẩm định và thong qua án quyết [10, tr. Tiếp đó, “trình tự tranh tụng này được thay thế bằng trình tự tranh tụng legisactiones formula (tố tụng theo công thức) theo đó các bên đã được phép Iranh tụng. Bên nguyên đơn và bị đơn đưa ra các chứng cứ, sau đó quan tòa thu thập lại rồi chuyển cho tòa, chánh án tòa là người đưa ra phán quyết cuối cùng” [10, tr.
Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định. Khái niệm tranh tụng được sử dụng tương đối phổ biến với nội dung và mức độ khác nhau trong khoa học luật tố tụng dân sự và được Trang 10 thừa nhận là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ. Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống luật lục địa mà cụ thể là nước Pháp thì “rố tung tranh tụng xuất hiện ở Pháp trong giai đoạn từ khi bị quân Bác Ba xâm lược cho đến trước thời kỳ Trung cổ" [21, tr. Sau đó Bộ luật tố tụng dan sự của Pháp năm 1807 đã quy định khá chặt chẽ về tranh tụng, theo đó “hai bên dương sự có bổn phận tổ chức điều khiển lấy vụ kiện; trong vụ kiện có tương quan đến quyền lợi hoàn toàn của tt nhân, Thẩm phán ngồi xử chỉ đóng vai trò khán giả hay trọng tài, mà không có quyền don đốc, thúc đẩy hay ra mệnh lệnh” [12, tr.
8], tức là “nguyên cáo tự mình dam nhận lây việc mướn thừa phát lại gởi triệu hoán trạng đòi bị đơn ra tòa, tự mình lo liệu lấy việc thẩm cứu vụ kiện, viện dan chứng cứ, xúc tiến xin xét xử và làm ngưng trệ sự tranh tụng. Khi hai bên hoàn tất hồ sơ và đệ nạp giấy tờ thủ tục lên tòa, lúc đó Tòa án mới nghị án để cứu xét [12, tr. Ở các nước theo trường phái án lệ mà cụ thể là nước Mỹ, Giáo sư Micheal Browde cho rằng: Nước Mỹ thừa hưởng bốn truyền thống luật của nước Anh, trong đó truyền thống thứ hai thừa hưởng luật của Anh là hệ thống đối nghịch (contradictory system). Lý thuyết về hệ thống đối nghịch cụ thể như sau: Ví dụ: bên trái là nguyên đơn, bên phải là bị đơn và mỗi bên này (nguyên đơn và bị đơn) déu có luật su của họ đại điện, như vậy trong sự tranh luận giữa luật sư của nguyên đơn và luật su của bi don thì sự thật sẽ nảy sinh qua sự tranh luận này.
Đó là lý thuyết chung, trên thực tế thì đôi khi không phải như vậy. Khía cạnh trong hệ thống đối nghịch đóng vai trò quan trọng là mỗi bên có nhiệm vụ đưa ra bằng chứng, xây dựng những tranh luận pháp lý của mình. Nếu nhìn về khía cạnh khác thì chính các bên sẽ kiển soát vụ kiện ấy. Kết quả của việc đó Tham phán sẽ là người thứ ba đứng trung gian và ra quyết định và có thai độ vô tư, họ là trọng tài [20, tr.
Lý thuyết về hệ thống đối nghịch vừa nêu đã chi phối các quy định về tranh tụng của các nước theo trường phái pháp luật án lệ. Trang 11 Ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây: Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay. Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tung” [50, tr. 1686]; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cái 1é, cãi nhau để tranh lấy phải" [6, tr.
Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự" [L2, tr. 367]; Quan điểm thứ hai cho rằng: “Sự tranh tung phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia, mà đại điện là Tòa án có thẩm quyền" [12, tr. 368]; Quan điểm thứ ba cho rằng: “Sự tranh tung là quá trình từ khi tố quyền được hành xứ cho đến khi có một phán quyết của Tòa án” {1, tr.
Xem xét những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy: Nếu tranh tụng chỉ là mối tương quan pháp lý giữa các đương sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác, bởi vì các đương sự chỉ khởi kiện ra Tòa án khi các đương sự không thể tự giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp của mình, họ cần đến Tòa án như là người “trong tai” đứng ra phan xử, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Như vậy, tranh tụng không chỉ là mối quan hệ giữa các đương sự mà còn bao hàm cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự. Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm tranh tụng phát sinh hai mối quan hệ giữa các đương sự với nhau và giữa đương sự với Tòa án như quan điểm thứ hai thì mới chỉ nói đến sự liên hệ tranh tụng mà chưa nói lên được bản chất của tranh tụng là gì?. Còn nếu quan niệm tranh tụng như quan điểm thứ ba thì chưa hoàn chỉnh bởi vì ở đây mới chỉ đề cập đến tranh tụng là một quá trình từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được một Trang 12 bản án, quyết định mà chưa nói lên được các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm mục đích gi? Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về quan hệ pháp luật dân sự một cách trung thực, khách quan, toàn diện.
Vì vậy, việc xác định sự thật khách quan về quan hệ pháp luật dân sự về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự đó trên cơ sở các thủ tục được quy định bởi pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến việc làm rõ quyền và nghĩa vụ đích thực của các bên theo đúng quy định của pháp luật về quan hệ dân sự mà các bên tham gia hay những quan hệ mà pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra. Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên.
trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện, khởi tố và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, khởi tố, thu thập chứng cứ đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, thậm chí quá trình tranh tung còn được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Trang 13 trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ để tiến hành xét xử lại.
Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại phiên tòa sơ thẩm hay tại phiên tòa phúc thẩm khi có sự tham gia tranh luận của các bên đương sự.