CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của TAND hiện nay” có thể được phân thành các nhóm sau đây: 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận về công lý và bảo vệ công lý của Tòa án Tác phẩm “Dân luật khái luận” của Vũ Văn Mẫu (1914-1998), Sài Gòn, năm 1961. Trong tác phẩm, tác giả cho rằng công lý là cứu cánh của pháp luật, khi xét xử đôi khi phải dựa vào công lý để sửa chữa một phần tính chất quá nghiêm khắc của pháp luật, vì nếu đem thi hành pháp luật với tinh thần quá câu nệ, người ta sẽ gần như đi tới chỗ bất công.
Pháp luật được ban hành không được trái với nguyên lý pháp luật, đó là lý tưởng mà xã hội theo đuổi - an ninh, công lý và tiến bộ xã hội. Nếu không tôn trọng các nguyên lý pháp luật, nhà lập pháp sẽ vô tình bước chân vào con đường thoái hóa trong lịch trình tiến hóa của nhân loại. Tác phẩm “Hồi ký của đồng chí Vũ Đình Hòe”, Nxb Hội Nhà văn, năm 2004. Trong tác phẩm có trích Bài phát biểu của đồng chí Vũ Đình Hòe với nhan đề “Công lý và pháp lý theo tinh thần “Chí công vô tư” của Hồ Chủ tịch”.
Trong nội dung Bài phát biểu, ông chỉ rằng, công lý là phải đứng hẳn về phía nông dân, dùng công cụ Tòa án để ủng hộ đắc lực cho cuộc đấu tranh của nông dân, đánh đổ giai cấp địa chủ, giành lấy ruộng đất cho nông dân. Mọi người đều lao động nên đều bình đẳng, đều có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình, đó là công lý ở mức cao nhất. Công lý và pháp lý là sự thể hiện “chí công vô tư” qua các thời kỳ cách mạng và mang một nội dung thích hợp với từng thời kỳ ấy. Công lý XHCN là việc thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, còn pháp lý XHCN chủ yếu là để bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
Bài viết “Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền” của Vũ Công Giao, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học số 25, năm 2009. Trong bài viết, tác giả phân tích khái niệm và đặc điểm của tiếp cận công lý với nghĩa công lý là sự đền bù hoặc khắc phục cho những bất công hoặc thiệt hại do cá nhân hay chủ thể khác gây ra. Việc tiếp cận công lý được thực hiện thông qua việc tiếp cận với các thiết chế tư pháp chính thống (thông thường được hiểu là hệ thống các cơ quan tư pháp như các Cơ quan điều tra, Công tố, Tòa án…) và không chính luan an 7 thống (thông thường được hiểu là hệ thống các luật tục, các cơ chế hòa giải dựa trên cộng đồng…). Bài viết “Quyền tiếp cận công lý trong tố tụng hình sự” của ThS Đinh Thế Hưng, Tạp chí Nghề luật, số 01, năm 2011.
Tác giả đã luận giải về khái niệm công lý, đó là những giá trị về công bằng, lẽ phải, phù hợp với lợi ích chung, với đạo lý được xã hội và pháp luật thừa nhận. Pháp luật là hiện thân của công lý nhưng công lý không đồng nhất với pháp luật. Chỉ khi nào pháp luật chuyển tải được toàn bộ những giá trị công bằng, lẽ phải, nhân đạo… của công lý thì lúc đó pháp luật mới là biểu hiện của công lý. Ngược lại, một thứ pháp luật không bảo vệ cho kẻ yếu chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi cho thiểu số kẻ mạnh có quyền lực ấy là thứ pháp luật bất công.
Tác phẩm “Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012. Trong tác phẩm, tác giả xác định một trong những đặc trưng cơ bản của Tòa án trong nhà nước pháp quyền là hoạt động phán xét công lý. Công lý là chuẩn mực đạo đức xã hội mà pháp luật có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ. Biểu hiện của công lý chính là sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người.
Hoạt động xét xử là hoạt động trực tiếp bảo vệ công lý. Tòa án không chỉ phán xét tính hợp pháp mà còn cả tính đúng đắn của hành vi, tức là ngoài căn cứ vào pháp luật, Tòa án còn căn cứ vào công lý. Các bài viết của ThS. Nguyễn Xuân Tùng: “Về khái niệm “công lý” trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 11/2013; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý” , Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 11/2013; “Yêu công lý: Phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ tư pháp Việt Nam” tại Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh (ngày 09/7/2012); “Tổng quan các tư tưởng, học thuyết về công lý trên thế giới và quan niệm về công lý trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013” tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi ngày 28/11/2013); “Sự cạnh tranh giữa các học thuyết công lý trong xã hội Việt Nam: nhìn từ đề xuất “nộp tiền thay thế nghĩa vụ quân sự” và “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” tại Báo Điện tử Một thế giới ngày 06/12/2013; “Công lý được xác định là giá trị căn bản trong Hiến pháp nhiều quốc gia trên thế giới” tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi ngày 16/12/2013); “Cảm nhận về công lý trong nền văn hóa Nho giáo tại Việt Nam” tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi ngày 10/01/2014); “Pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải: Ý nghĩa nhân văn của hệ thống pháp luật XHCN từ Thông điệp năm mới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”, tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi luan an 8 ngày 28/01/2014); “Giới thiệu các công trình khoa học nghiên cứu về công lý” tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi ngày 10/6/2014)… Qua các bài viết này, tác giả đã phân tích khái niệm công lý qua khía cạnh lịch sử, chính trị và pháp lý, và đưa ra định nghĩa về công lý là phẩm hạnh xã hội mang tính chính trị sâu sắc, là giá trị giúp mỗi thành viên xã hội không làm phương hại đến người khác và là căn cứ để Tòa án giải quyết các xung đột, tranh chấp, vi phạm trên cơ sở đạo lý, lẽ phải, lẽ công bằng, qua đó, tạo dựng sự đồng thuận, ổn định và trật tự xã hội.
Tác giả đã nêu rõ việc bảo vệ công lý được thực hiện thông qua cơ chế xét xử khi Tòa án thực hiện quyền tư pháp của mình, công lý yêu cầu xử lý các vụ việc bằng các thủ tục tố tụng công bằng, hợp pháp nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội và bảo vệ các quyền con người một cách nghiêm minh. Công lý trong xét xử đòi hỏi sự đồng thuận cao của xã hội đối với tính hợp lý của cơ chế tố tụng, tính liêm chính và độc lập của Tòa án và tính chính xác, không thiên vị của các bản án, quyết định. Bài viết “Bảo đảm công lý trong thể chế pháp quyền” của PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn tại Trang thông tin điện tử Tạp chí Cộng sản (chuyên mục Bình luận ngày 20/3/2015). Trong bài viết, tác giả cho rằng công lý có 3 giai đoạn phát triển.
Giai đoạn thứ nhất, công lý thể hiện qua luật báo thù, sự báo trả tương xứng. Giai đoạn thứ hai, sự báo thù được thay bằng bồi thường, phạt vạ, nhằm giữ sự yên ổn, hòa bình. Giai đoạn thứ ba, công lý do Toà án xét xử để giải quyết các xung đột trong xã hội. Theo tác giả, công lý là sự nhận thức đúng và hành động đúng vì chân lý, vì công bằng và đạo đức, được xã hội và pháp luật thừa nhận.
Giá trị của công lý sẽ cung cấp những tiêu chí cơ bản để đánh giá, thẩm định các đạo luật thực định. Do đó, một đạo luật công bằng là một đạo luật dựa trên và không đối lập với các giá trị công lý. Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề thuộc nội hàm công lý như công bằng, bình đẳng, nhân đạo, dân chủ… Ở góc độ xã hội, có thể kể các công trình như: “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước Châu Á và Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 1998; “Quản lí sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng” của GS.TS Phạm Xuân Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2001; “Báo cáo phát triển thế giới 2006 - Công bằng và phát triển” của Ngân hàng thế giới, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2005; “Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người” của PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm, Nxb Lý luận chính trị, năm 2006; “Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị luan an 9 trường ở nước ta hiện nay” của TS. Võ Thị Hoa, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2012….
Ở góc độ luật học, có thể kể các công trình nghiên cứu như: “Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam”, Luận án phó tiến sĩ của TS. Võ Khánh Vinh, năm 1993; “Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ của TS. Vũ Anh Tuấn, năm 2001; “Tính công bằng trong phán quyết của TAND ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của ThS. Trần Trí Dũng, năm 2007; “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sĩ của TS.
Hồ Sỹ Sơn, năm 2007; “Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội” của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2009; “Giá trị xã hội của pháp luật Việt Nam hiện nay - Lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Nguyễn Văn Động, Nxb Tư pháp, năm 2013… 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án gắn với nhiệm vụ bảo vệ công lý về phương diện lý luận và thực tiễn Luận án tiến sĩ “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” của TS. Hoàng Thị Sơn, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003.