CHƯƠNG I NHUNG VAN BE CHUNG VE NGUYEN TAC BẢO DAM TRANH TUNG TRONG XÉT XỬ 11. Khai niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nguyên bao dam tranh ‘tung trong xét xử: LLL Khái niệm nguyên tắc bão dim tranh tung trong xét xi Theo nhiên nha nghiên cửu thi loại hình tổ tụng tranh tụng xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toa án nhà nước Các nhà nghiên cửu lịch sử Nhà nước và Pháp luật thé giới chứng minh réng tư tưởng vẻ tranh tung bat nguôn từ ý tưởng của nha triết học cỗ đại nỗi tiếng người Hy Lap Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một diéu gì đó. trong một thời gian dai, một vai đâu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai 'bên sẽ cùng nhìn ra sựthat”! Y tưởng này của Plato được các luật gia Hy Lap cổ đại phát triển và xây dựng thảnh 1a một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở nha nước Hy Lap cỗ đại.
Sau đó, nguyên tắc nay được đưa vào áp dung ở La Mã và các quốc gia cỗ đại khác ở Châu Âu với tên gọi “thủ tục hồi đáp liên tục” Sự ra đời vả phát triển của khái niệm tranh tụng gắn liễn với sự hình. thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bô trong lich sử tư tưởng nhân loại. Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, ma cao hơn nó là thành tựu của sw phát triển tư tưởng, của nên văn minh nhân loại. Trong xã hội hiện đại, ở các nước dù có tổ chức hé thống tư pháp khác nhau, dù là hệ thống luật an lệ (common law), hệ thống luật lục dia (legal law) hay hệ thống luật xã hội chủ nghĩa, thì ít hay nhiều và bằng các thể hiện khác nhau, aps /apchitoven smbi-vtpap baton vengventac ranking trong bith 2015 trong hệ thông tổ tung đều có yếu td tranh tung Đây la cơ chế tổ tụng có hiệu quả bao dam cho téa án ác định sư thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng din vụ việc, đảm bao sự công bằng và bảo vệ các quyển và lợi ích cia các bên tham gia tổ tụng.
Ở Việt Nam, hiện nay van còn nhiều cách hiểu khác nhau vẻ khái niệm. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hản - Việt tự điển thì tranh tung có nghĩa là “cãi lẽ, cấi nhau để tranh lây phải”?, Còn theo nghĩa Hán Việt thi thuật ngữ "tranh tung” được ghép từ hai từ "tranh luận” va "tổ tung”. Theo Từ điển Luật học của Viện khoa hoc pháp lý, Nha xuất bản Tw pháp năm 2005, tranh tụng là "hoạt động tổ tung được thực hiện bởi các bén tham gia tố tụng (bên buộc tội va bên bi buộc tôi) có quyển bình đẳng với nhau trong việc thụ thâp, đưa ra chứng cứ dé bão vệ các quan điểm vả lợi ích của minh, phân bac lại các quan điểm va lợi ich cũa phía đổi lập”. Cách hiểu này đã thể hiện được một số.
đặc trưng của tranh tụng như “Ia hoạt động tổ tụng của các bên tham gia tố tung”, “có quyền bình đẳng với nhau. để bảo về các quan điểm va lợi ich của mình, phan bac lại các quan điểm vả lợi ích của phía đối lập”. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biết được hoạt đông tranh tụng với những, hoạt động tổ tụng khác va cũng thiểu di vai trò rất quan trong của một chủ thể là Toa án. Bai 1é tranh tung bao gid cũng gắn liễn với hoạt động tải phán của Toa án, bằng cách diéu tra công khai, chính thức về vu việc, nghe các bên tranh luận bảo vệ quan điểm của minh để xác định sự thật khách quan của vu án và đưa ra phán quyết cuối cing đảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tôi, đúng pháp luật Tuy theo tinh chất vụ án mả chức năng tổ tụng, dia vị pháp lý của các ‘én cũng khác nhau.
Tranh tụng trong tổ tụng hình sự diễn ra giữa bên buộc tôi ‘Tabu Chan G993), Hin - Vitnự đền, Nh mắt bữn thù phố HS Chibi 621 10 va bên bao chữa, chủ yêu la giữa công tô với người bảo chữa vả bị cáo; trong tổ tung dan sự diễn ra giữa nguyên đơn với bị đơn dan su. Để những người đó thực hiện việc tranh tung, pháp luật tổ tung quy định cho họ các quyền va nghĩa vụ tổ tung nhất định. Vi vậy, trong khoa học phép lý, tranh tụng được phân thành tranh tụng dan sự, tranh tụng kinh tế, tranh tung hảnh chính. Trong tất cả các loại tranh tung, tòa án là cơ quan thực hiện chức năng, xét xữ.
Téa an thực hiện chức năng như một trong tai có dia vị độc lập với các ‘bén dé phân xử một cách khách quan, theo pháp luật. Trong tổ tụng hình sự, chức năng xét xử của tòa án độc lập với chức năng buộc tội va chức năng bảo chữa, trong tổ tung dân sự, kinh tế, tòa án la người đứng ra phân xử giữa bên khối kiện va bên bị kiện để ra phán quyết về vụ án. Tranh tung có thé được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa réng Tranh tung là những hoạt động tổ tụng được bat đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khối kiên và kết thúc khi có bản án, quyết định của Toa án có hiệu lực pháp luật.
Qua trình tranh tụng bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ an, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. ‘va cả giai đoạn giám doc thẩm tai thẩm. Theo nghĩa hẹp: Tranh tụng là sự đối đáp, đầu tranh giữa các bên trong vụ án với nhau về chứng cứ, yêu câu, phân. đổi yêu cầu của mỗi bén để từ đó nhằm chứng minh cho đổi phương va Toa án rằng yêu cầu và phản đổi của minh có căn cứ và hợp pháp”.
Cũng có quan điểm cho ring tranh tung lả một mô hình tổ tụng. Trong một số tải liêu, thường người ta thưởng để cấp đến hệ thông tranh tung (Adversarial System). Theo từ gốc tranh tụng trong tiếng Anh lả “Adversarial” có nghĩa 1a đối kháng, đương đâu. Như vậy về bản chất tranh "ợggIRfertpcanhres gov san tc hong choi chứ ong tro tng ti phi tới gia đúc ac-dhe he dot pha ương cứng tact han guy congto-ve- diem satsatnt-mnhns0-#196 bem.
ir tụng là "cuộc đều” giữa hai bên trong đỏ tổ tụng hình sự (bên buộc tội và bên ‘bi buộc tội) mà giai đoạn đương đâu tại tòa án (tai phiên tỏa) la trung tâm, là chính, Hai bên tham gia "cuộc đấu” déu được sử dung các quyền va nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập, kiểm tra va đảnh gia chứng cứ, phân tích và đưa ra các kết luận đổi với những việc cụ thể. Tổ tụng tranh tung cũng không buộc các bên phải khách quan, công khai trong quá trình thu thấp chứng cứ. Họ có thể tiễn hành theo nhiều cách để dat được mục đích buộc tội hay gỡ tdi, miễn sao khi tranh tung trước Toa, bên buộc tôi phải đưa ra các chứng cứ nhằm chứng minh tính có lỗi của hành vi phạm tôi và xác định rõ. nguyên nhân, hâu quả của tội phạm phải được nằm trong mối quan hệ nhân quả.
Hanh vi có lỗi đó đã vi pham pháp luật và gây ra hậu quả nhất định cho người bi hại. Còn bên gổ tội, họ phai chứng minh được hành vi đó không có Tối, không vi pham luật hoặc chưa tới mức phải chịu trách nhiệm hình sự hay có căn cử dé giăm nhe trách nhiệm hình sự. Trong qua trình xét xử, Toa an (mà cụ thé là thẩm phan chủ toa phiên toa) đóng vai trò lả người “trọng tải lạnh lùng”, quan sắt các bên tranh tụng và cùng với kết luân của béi thẩm. đoàn sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng là bên nao chiến thing.
Việc xem xét, đánh giá chứng cử ma các bên đưa ra tai cuộc tranh tung sẽ dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ mà pháp luật đã quy định và phu thuộc vao niêm tin nội tâm của người thẩm phán. Tuy nhiên có thé thay, dù hiểu dưới góc độ nào thi tranh tụng cũng đều. có ý nghĩa bao trùm lên cả quả trình hoạt đông tổ tung chứ không chỉ là một giai đoạn hay một thủ tục trong phiên sét xử tại Tòa. Nhưng trước Téa — với tự cách là trọng tải phán xử một cách khách quan, tranh tung được thể hiện "một cách tập trung nhất và có ý nghĩa quyết định cho việc giãi quyết vụ án.
"Ea Đức Anh 2016), Team no ca Hub sát tiến ti phi tòa hồ ¡sơ Dễ từ te on Quân Khi 4, Thận văn tục sft học, Hoc viên Khoa học số hộ, Hà Nội 7. Tranh tung không chỉ là phương tiện, là cách thức để tìm ra chân lý, lâm sảng t6 sự thật khách quan mã con là thánh tựu của văn minh nhân loại, không chỉ thể hiện ban chất nhân đạo ma còn phan anh xu hướng phát triển ân chủ và tiền bộ, tranh được lối ding quyền lực hay sức manh của nha nước áp đặt một cách chủ quan, duy ý chí va bat công. Từ các quan điểm trên, có thé rút ra khái niém chung về tranh tung, đó là việc các chi thé tham gia tổ ting đua ra các quan điễm của mình, lập luân, và các tài liêu chứng cứ để ching minh cho quan điểm, lập luận của mình đồng thời tranh luận lat dé bác bd một phân hoặc toàm bộ quan điễm của phía. bên ia dưới sự giảm sát cũa Téa ám.
Téa án với vai trò là trung gian, trong Tài sẽ căm cứ vào lết quả tranh hing giữa các bên đỗ đưa ra phán quyết của ‘minh Tranh tụng chính la cơ sỡ để Téa an đánh giá toán bộ nội dung vu án và đưa ra phán quyết cuối cùng đảm bão tính khách quan, chính sắc của vụ án. ‘Mic dù đã xuất hiện và được thừa nhân từ rất lâu trong lich sử te pháp, ở các nước phát triển khác, nhưng van để tranh tung cũng như nguyên tắc. tranh tụng ở Việt Nam vẫn được coi là van đề mới. Sự thừa nhận mang tính.
sơ khai đầu tiên về tranh tụng ở Việt Nam được thể hiện trong Nghị quyết 08/2002/NQ-TW của Bộ Chính tr ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trong têm của công tác tư pháp trong thời gian tới, xác định “. việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên töa, trên cơ sỡ xem xét day di, toan diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bao chữa, bị cáo. để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời han pháp luật quy định”.