Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG 1.1 Khái niệm dịch vụ bưu chính viễn thông 1.1 Quan niệm chung về dịch vụ Dịch vụ là khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi trong các tài liệu kinh tế. Tuy nhiên, nô ̣i hàm của dich ̣ vu ̣ đƣơ ̣c hiể u với nhƣ̃ng nghiã còn khác nhau. Trong Bách khoa toàn thƣ dich ̣ vu ̣ đƣơ ̣c hiể u ; Thƣ́ nhấ t , là hình thái của lao đô ̣ng phi sản xuấ t , là quan hệ kinh tế -xã hội thể hiê ̣n sƣ̣ tiêu dùng thu nhâ ̣ p. Thƣ́ hai, là hoạt động có mục đích nhất định tồn tại dƣới hình thái hiệu quả có ích của lao động.
Đây là quan niê ̣m phổ biế n của thời kỳ kinh tế hiê ̣n vâ ̣t , phủ nhâ ̣n kinh tế thi ̣trƣờng trong chủ nghĩa xã hội , tƣ̀ đó , đã gây cản trở cho sƣ̣ phát triển của các ngành dịch vụ. Nhƣ̃ng quan điể m gầ n đây đã khắ c phu ̣c đƣơ ̣c tiń h phiế n diê ̣n của quan niê ̣m kể trên. Trong Tƣ̀ điể n kinh tế Megabook .ru, dịch vụ đƣợc hiểu là côn g viê ̣c đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n theo đơn đă ̣t hàng nhƣng không ta ̣o ra sản phẩ m có hiǹ h thái độc lập mới. Trong Tƣ̀ điể n thuâ ̣t ngƣ̃ kinh tế , dịch vụ là những dạng hoạt động , công viê ̣c , mà trong quá trình thực hiện chúng không tạo ra s ản phẩ m vâ ̣t chấ t có hin ̀ h thái vâ ̣t thể mới , nhƣng làm cho sản phẩ m hiê ̣n có đã đƣơ ̣c ta ̣o ra thay đổ i về chấ t.
Đó là của cải đƣơ ̣c cung cấ p không phải dƣới hình thái hiện vật, mà là dƣới hình thái hoạt động. Tƣ̀ nhƣ̃ng quan điể m trên, có thể thấy điểm chung trong các quan niệm về dich ̣ vu ̣ là đề u coi dich ̣ vu ̣ là kế t quả có ić h của mô ̣t da ̣ng lao đô ̣ng đă ̣c thù. Kế t quả đó đƣợc biể u hiê ̣n ra dƣới hiǹ h thái phi vâ ̣t thể hay vô hiǹ h. Trong tác phẩ m “Các ho ̣c thuyế t về giá tri thă ̣ ̣ng dƣ”, C.
Mác cũng đã sử dụng thuật ngữ 12 “sƣ̣ phu ̣c vu ̣” để thể hiện khái niê ̣m dich ̣ vu ̣. Theo đó , có thể hiểu dịch vụ là những hiệu quả có ích của nhƣ̃ng lao đô ̣ng cu ̣ thể tồ n ta ̣i dƣới hình thái sản phẩ m vô hình. Nhƣ vâ ̣y, dịch vụ là loại hình sản phẩm đặc thù của lao động , là hiệu quả có ích của lao động cụ thể, tồ n ta ̣i dƣới hình thái phi vâ ̣t thể. Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhiều loại hình dịch vụ cũng trở thành hàng hoá.
Bên ca ̣nh nhƣ̃ng hàng hoá hiê ̣n vâ ̣t , trên thi ̣trƣờng còn có nhƣ̃ng hàng hóa vô hình hay dịch vụ , nhƣ dich ̣ vu ̣ của bác sĩ , giáo viên, luâ ̣t sƣ, v. Giá trị sử dụng của dich ̣ vu ̣ là cũng đáp ƣ́ng mô ̣t nhu cầ u nào đó của ngƣời mua. Để tạo ra dịch vụ cũng cần tới nhƣ̃ng chi phí lao động nhất định. Nhƣ̃ng ngƣời làm dich ̣ vu ̣ cũng cầ n nhâ ̣n đƣơ ̣c thu nhập bằng tiền từ hoạt động dịch vụ của mình, đồng thời những ngƣời đƣợc thụ hƣởng dịch vụ cũng phải chi tiề n để đƣợc hƣởng thụ những dịch vụ đó.
Việc mua nhƣ̃ng dich ̣ vu ̣ hoàn toàn không khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hóa nào khác. Vì vậy, dịch vụ cũng có giá trị trao đổi. Căn cứ chủ yếu để xác định giá cả thị trƣờng của dịch vụ là chi phí sản xuất ra chúng. Khi lực lƣợng sản xuất còn chƣa phát triển, các sản phẩm mang hình thái vật thể nhƣ nông sản, sản phẩm của các ngành công nghiệp… có vai trò nền tảng trực tiếp của đời sống xã hội.
Vì vậy việc sản xuất ra chúng là quan tâm hàng đầu của xã hội. Theo sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, số lƣợng và chủng loại các sản phẩm phi vật thể tăng dần, có vai trò không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân ngày càng tăng của xã hội, mà còn có tác động ngày càng lớn tới các ngành sản xuất sản phẩm vật thể. Vì vậy, tốc độ phát triển của các hoạt động dịch vụ có xu hƣớng tỷ lệ thuận với trình độ phát triển của sản xuất xã hội, các ngành dịch vụ cũng đƣợc hình thành và mở rộng không ngừng dƣới tác động của phân công lao động xã hội. Ngày nay có nhiều cách phân loại dịch vụ.
Theo nguồn gốc hình thành sản phẩm dịch vụ đƣợc phân loại theo ngành, lĩnh vực nhƣ dịch vụ giao thông 13 vận tải, thông tin liên lạc, thƣơng mại, y tế, giáo dục, du lịch, tài chính ngân hàng, quản lý nhà nƣớc …. Theo tính chất kinh tế - xã hội của dịch vụ trong nền kinh tế thị trƣờng có thể phân biệt dịch vụ có tính chất thị trƣờng và dịch vụ có tính chất phi thị trƣờng. Dịch vụ có tính chất phi thị trƣờng là các dịch vụ đƣợc cung cấp miễn phí hoặc với giá cả thấp ở mức không bù đắp đƣợc những chi phí tạo ra chúng. Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ.
Dịch vụ là một điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh. Sự phát triển dịch vụ hợp lí, có chất lƣợng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh. Do ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng, có vị trí lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia phát triển. Dịch vụ là những hoạt động cần thiết, tất yếu đƣợc nẩy sinh từ yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống của con ngƣời.
Dịch vụ sản xuất ra các điều kiện nhằm phục vụ các hoạt động xã hội và đời sống con ngƣời. Các sản phẩm của dịch vụ cũng là những hàng hoá đƣợc mua bán trao đổi trên thị trƣờng. Dịch vụ vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Xã hội phát triển càng cao thì lĩnh vực sản xuất dịch vụ có xu hƣớng phát triển ngày càng tăng.
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, nhất là nền kinh tế tri thức, trong GDP và cơ cấu lao động xã hội, cơ cấu kinh tế quốc dân, dịch vụ là một bộ phận hàng hóa vô hình ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Dịch vụ là nguồn của cải vô tận, làm cho dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.2 Khái niệm và loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông Khái niệm về dịch vụ bưu chính viễn thông 14 Dịch vụ bƣu chính viễn thông bao gồm các dịch vụ bƣu chính và dịch vụ viễn thông. Bƣu chính là bộ phận ngành bƣu điện phụ trách việc chuyển thƣ từ, báo chí, tiền bạc, bƣu kiện. Dịch vụ bƣu chính ban đầu là dịch vụ tải nội dung thông tin thông qua các phƣơng tiện nhƣ bì thƣ, ấn phẩm.
Theo sự phát triển của ngành bƣu chính, dịch vụ bƣu chính ngày càng đƣợc mở rộng ra bao gồm cả các dịch vụ chuyển bƣu phẩm, bƣu kiện hàng hoá thông qua các phƣơng tiện vận chuyển bằng sức ngƣời, động vật và máy móc khác… Viễn thông là nói về sự liên lạc với những nơi rất xa. Các tín hiệu nhìn thấy đƣợc đã đƣợc sử dụng trong thế kỷ 18 nhƣ hệ thống biểu hiện các chữ cái bằng cách đặt tay hay 2 lá cờ theo một vị trí nhất định (semaphore), hay máy quang báo (heliograph) là một dụng cụ truyền tin bằng cách phản chiếu ánh sáng mặt trời. Theo nghĩa hẹp hơn, ngày nay viễn thông đƣợc hiểu nhƣ là cách thức trao đổi dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác. Các dịch vụ viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại.
Ngày nay các thiết bị viễn thông là một thành phần cơ bản của hệ thống kết cấu hạ tầng thông tin kinh tế xã hội. Theo quy định tại Điều 37 - Nghị định số 109/CP, dịch vụ viễn thông đƣợc hiểu là dịch vụ truyền đƣa, lƣu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lƣới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp. 15 Từ những trình bày ở trên có thể khẳng định, dịch vụ bƣu chính viễn thông là kết quả tất yếu đƣợc nẩy sinh từ yêu cầu sản xuất ra các phƣơng thức, phƣơng tiện truyền tải thông tin nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống con ngƣời. Quá trình truyền tải thông tin không những thƣờng gắn liền với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hoặc giữa các quá trình đó với nhau.
Nó đƣợc xác định bằng đại lƣợng thời gian, không gian truyền tin. Quá trình truyền tải thông tin ban đầu đƣợc thực hiện thông qua dịch vụ bƣu chính, nhƣng dƣới tác động của nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, dịch vụ viễn thông đã đƣợc hình thành và phát triển nhanh với nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Dịch vụ bƣu chính viễn thông thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể cung cấp và thụ hƣởng dịch vụ truyền tải thông tin thông qua hoạt động của ngành bƣu chính và viễn thông. Các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông Thứ nhất, dịch vụ bưu chính: Dịch vụ bƣu chính bao gồm các dịch vụ bƣu chính cơ bản, dịch vụ bƣu chính cộng thêm, dịch vụ bƣu chính công ích: Dịch vụ bưu chính cơ bản đƣợc thực hiện bằng việc nhận gửi, chuyển, phát bƣu phẩm, bƣu kiện thông qua mạng bưu chính công cộng, mạng chuyên dùng và mạng chuyển phát.
Bƣu phẩm bao gồm thƣ (trừ thƣ do doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát thƣ thực hiện) bƣu thiếp, gói nhỏ, gói ấn phẩm, học phẩm dùng cho ngƣời mù đƣợc gửi qua mạng bƣu chính công cộng. Bƣu kiện bao gồm vật phẩm hàng hoá đƣợc đóng gói khối lƣợng không quá năm mƣơi kilôgam (50 kg) đƣợc gửi qua mạng bƣu chính công cộng.