Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Hoài Nam thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tuấn Khải. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, mã số 62 38 01 01.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong thực tiễn lập pháp tại Việt Nam, Chính phủ là cơ quan trình khoảng 90% tổng số các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, nhận thức lý luận và quy định pháp lý về vị trí của Chính phủ trong quy trình này vẫn tồn tại hai luồng quan điểm trái ngược: một luồng ý kiến cho rằng Quốc hội phải nắm trọn quyền soạn thảo luật để tránh lợi ích cục bộ ngành và tránh việc Quốc hội chuyển gánh nặng lập pháp sang hành pháp; luồng ý kiến khác lại khẳng định việc chuẩn bị dự án luật thuộc trách nhiệm tự nhiên của Chính phủ, Quốc hội chỉ đóng vai trò thẩm định, phản biện và biểu quyết thông qua. Bên cạnh đó, thực tiễn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ còn bộc lộ nhiều hạn chế: tình trạng "luật khung" còn phổ biến, tiến độ soạn thảo bị chậm trễ, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi do thiếu tính khả thi hoặc sai sót kỹ thuật. Trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới được ban hành, việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò pháp lý cũng như trách nhiệm chính trị của Chính phủ đối với hoạt động này là một đòi hỏi cấp bách.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQXHCN) ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể nhằm tăng cường và phát huy vai trò, trách nhiệm này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ quan niệm về Nhà nước pháp quyền (NNPQ), sự hình thành và phát triển nhận thức về NNPQXHCN Việt Nam nhằm xác định các yêu cầu đặt ra cho Chính phủ trong xây dựng pháp luật;
- Nghiên cứu bản chất của Chính phủ và mối quan hệ với Quốc hội trong cơ chế vận hành quyền lực nhà nước nói chung và trong hoạt động lập pháp nói riêng;
- Phân tích cơ sở lý luận về việc đề cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong bối cảnh xây dựng NNPQXHCN Việt Nam;
- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia về vai trò, trách nhiệm của chính phủ đối với hoạt động lập pháp;
- Đánh giá quy định pháp luật và thực trạng thực hiện quy định về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong xây dựng luật, pháp lệnh tại Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong công tác này thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: cơ sở lý luận về NNPQ, NNPQXHCN và các nguyên tắc xây dựng dự án luật, pháp lệnh; vị trí, tính chất của Chính phủ trong cơ cấu quyền lực nhà nước và hoạt động xây dựng pháp luật; kinh nghiệm quốc tế; cùng hệ thống quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong công tác xây dựng dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tập trung vào cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của Chính phủ Việt Nam đối với các dự án luật, pháp lệnh; nguồn tư liệu văn bản quy phạm pháp luật khảo sát chủ yếu từ sau Hiến pháp năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2017), cùng dữ liệu thực tiễn và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 5 nhóm tài liệu chính:
| Nhóm tài liệu |
Các công trình, tác giả tiêu biểu |
Nội dung và giá trị tham khảo đối với luận án |
| 1. Luận án tiến sĩ trong nước |
- Trần Quốc Bình (2011), Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. - Lê Văn Hòe (1995), Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. - Trần Hồng Nguyên (2007), Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. - Nguyễn Đình Hào (2011), Quyền Lập quy của Chính phủ. - Hoàng Văn Tú (2004), Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay. - Đỗ Ngọc Hải (2003), Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt Nam hiện nay. |
Phân tích quy trình lập pháp và sự tham gia của các thiết chế quyền lực. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tiếp cận ở phạm vi hẹp theo quy trình kỹ thuật lập pháp hoặc riêng rẽ về quyền lập quy, chưa gắn kết toàn diện với trách nhiệm chính trị và thẩm quyền hoạch định chính sách của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013. |
| 2. Đề tài nghiên cứu khoa học |
- Đề tài cấp nhà nước KHXH 05 (GS. Đào Trí Úc chủ nhiệm). - Đề tài cấp bộ CT11-16-03 (PGS. Nguyễn Thị Việt Hương chủ nhiệm). - Đề tài cấp bộ năm 2012 của Bộ Tư pháp (TS. Lê Thành Long chủ nhiệm). - Chương trình KX.04 (GS. Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm), gồm các đề tài nhánh của GS. Đào Trí Úc (KX 04.02), GS. Trần Ngọc Đường (KX 04.04), TS. Vũ Đức Khiển (KX 04.05). - Đề tài Văn phòng Quốc hội năm 2001 (Vũ Mão chủ nhiệm), Đề tài Văn phòng Chính phủ năm 2006, các đề tài của Bộ Tư pháp năm 2006. |
Làm rõ mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự phân công, phối hợp trong thực hiện quyền lập pháp, tạo cơ sở thực tiễn và lý luận nền tảng cho việc nghiên cứu thể chế. |
| 3. Sách chuyên khảo |
- PGS. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên, 2008), Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền; PGS. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước. - PGS. Nguyễn Minh Đoan (2011), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. - GS. Trần Ngọc Đường và TS. Ngô Đức Mạnh (đồng chủ biên, 2008), Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Văn phòng Quốc hội (2004), Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội. - PGS. Lê Minh Thông (2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay. |
Luận giải sâu sắc vị trí trung tâm của hành pháp trong bộ máy nhà nước hiện đại, vấn đề giới hạn quyền lực nhà nước, trách nhiệm chính trị - đạo đức của chủ thể soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. |
| 4. Báo cáo khoa học và bài báo chuyên ngành |
- Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo Thực trạng hoạt động phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay. - Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo số 06b/BC-BTP tổng kết thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và năm 2004. - TS. Đinh Dũng Sỹ (2014), bài viết Luận bàn thêm về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật. - Các công trình của: GS. Phạm Hồng Thái, GS. Lê Minh Tâm, PGS. Phạm Hữu Nghị, PGS. Bùi Xuân Đức, PGS. Lương Thanh Cường, TS. Nguyễn Sỹ Dũng, TS. Phạm Tuấn Khải, ThS. Nguyễn Phước Thọ, PGS. Hoàng Thị Kim Quế... |
Cung cấp nhận thức về bản chất của xây dựng pháp luật là quá trình ra quyết định chính sách; chỉ rõ thực trạng phân tích chính sách và ranh giới thẩm quyền lập pháp - lập quy. |
| 5. Tài liệu nước ngoài và sách dịch |
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu pháp luật về ban hành văn bản pháp luật nước ngoài của Bộ Tư pháp (Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Gruzia, Azerbaijan...). - Văn phòng Quốc hội (2006), Quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới. - Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa, Dương Thu Hương (Viện Khoa học pháp lý), Kinh nghiệm quốc tế về quy trình lập pháp. - Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ. - David Osborne và Ted Gaebler, Đổi mới hoạt động của Chính phủ. - Alan B. Morrison (chủ biên), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ. - Alexis de Tocqueville, Nền dân trị Mỹ. - Roger H. Davidson và Walter J. Oleszek, Quốc hội và các thành viên. - David Held, Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại. - David M. Olson, The Legislative Process: A Comparative Approach. - Micheal Zander (2004), G. Thornton (2006), Ian McLeod (2009), Goehlert Robert U. và Fenton S. Martin (1980)... |
Cung cấp dữ liệu so sánh quốc tế: nguyên tắc quản trị "cầm lái chứ không phải bơi chèo", sự mở rộng quyền lực điều tiết của hành pháp, và dữ liệu thống kê từ 40 quốc gia chứng minh việc chính phủ chiếm ưu thế tuyệt đối trong sáng kiến lập pháp là xu thế phổ biến. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình nghiên cứu trong nước trước đó được hoàn thành trước khi Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ra đời. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận hoạt động xây dựng pháp luật ở khía cạnh kỹ thuật quy trình, hoặc xem xét trách nhiệm của Chính phủ thuần túy dưới góc độ cơ quan chấp hành. Luận án này giải quyết khoảng trống về việc xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn toàn diện đối với vai trò khởi xướng chính sách, vị thế chủ đạo mang tính tự nhiên của hành pháp trong xây dựng luật, và đặc biệt là trách nhiệm chính trị - pháp lý của Chính phủ đối với chất lượng của hệ thống pháp luật quốc gia trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; học thuyết phân chia quyền lực nhà nước (Montesquieu) và các lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại về vị trí của nhánh quyền hành pháp (David Osborne, Ted Gaebler, Roger H. Davidson, David Held).
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để phân tích các quy định pháp luật, các quan điểm khoa học và tổng hợp các tiêu chí đánh giá hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh;
- Phương pháp phân tích thống kê: Sử dụng số liệu thực tiễn về số lượng dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội qua các nhiệm kỳ nhằm bảo đảm tính xác thực cho các luận điểm;
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Khảo sát quá trình tiến hóa về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật qua các giai đoạn lập hiến của Việt Nam (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013);
- Phương pháp luật học so sánh: Nghiên cứu, đối chiếu mô hình tổ chức quy trình lập pháp và vai trò của nhánh hành pháp tại một số quốc gia (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc...).
Nguồn dữ liệu của luận án gồm: hệ thống các văn bản Hiến pháp và luật của Việt Nam; các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị; các báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội; các số liệu thống kê lập pháp tại Phụ lục luận án; cùng các tiêu chuẩn quốc tế về pháp quyền (như bộ tiêu chí của Dự án Công lý Thế giới - World Justice Project).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của Đề tài
Chương 1 tổng kết 5 nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, chỉ ra các giá trị khoa học kế thừa và những khoảng trống lý luận cần tiếp tục giải quyết. Trên cơ sở đó, tác giả xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu trung tâm:
- Câu hỏi thứ nhất: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác xây dựng pháp luật nói chung và vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh nói riêng?
- Câu hỏi thứ hai: Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, những vấn đề mang tính nguyên tắc nào cần chú trọng trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ, và quy trình thực hiện cần được thiết kế ra sao để bảo đảm vai trò, trách nhiệm đó?
- Câu hỏi thứ ba: Cần thực hiện các giải pháp nào để nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh, qua đó cải thiện chất lượng văn bản đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích bản chất của Nhà nước pháp quyền và các yêu cầu đặt ra cho hoạt động xây dựng pháp luật. Luận án đối chiếu các tiêu chí quốc tế của Dự án Công lý Thế giới (World Justice Project) gồm 5 nhóm yêu cầu (trách nhiệm giải trình của chính quyền trước pháp luật; tính ổn định và công khai của luật; tính công bằng; bảo vệ quyền con người; quy trình ban hành dễ tiếp cận) và 8 chuẩn mực theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị. Từ đó, tác giả đúc kết 3 yêu cầu cốt lõi đối với hoạt động xây dựng pháp luật trong NNPQXHCN:
- Bảo đảm tính hợp lý: Quy định pháp luật phải chứng minh được sự cần thiết, lợi ích mang lại cho xã hội phải lớn hơn chi phí tuân thủ hoặc các bất lợi phát sinh;
- Bảo đảm sự đơn giản: Ngôn ngữ trong sáng, bố cục rõ ràng, quy định cụ thể, dễ hiểu để mọi công dân có thể tiếp cận và tự giác chấp hành;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch: Quy trình xây dựng mở, tạo điều kiện cho các đối tượng chịu tác động tham gia đóng góp ý kiến nhằm ngăn ngừa lợi ích nhóm và tư duy cục bộ.
Về bản chất của nhánh quyền hành pháp, chương này chỉ rõ sự chuyển biến từ quan niệm cổ điển của Montesquieu (xem hành pháp là quyền chấp hành thụ động) sang mô hình quản trị hiện đại, nơi hành pháp trở thành "quyền trung tâm", giữ vai trò hoạch định chính sách quốc gia. Dẫn chứng nghiên cứu so sánh của David M. Olson trên 40 quốc gia, tác giả nhấn mạnh việc chính phủ chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc trình dự án luật là một quy luật khách quan: có 19 quốc gia (chiếm 48%) chính phủ trình trên 90% số dự án luật, và 10 quốc gia (chiếm 25%) chính phủ trình từ 60% đến 89% số dự án luật.
Chương 3: Thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Chương 3 tái hiện quá trình phát triển vai trò của Chính phủ qua các giai đoạn lập hiến và đánh giá thực trạng theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Tác giả phân tích số liệu thực tế cho thấy Chính phủ luôn là chủ thể chủ trì soạn thảo và trình khoảng 90% tổng số dự án luật, pháp lệnh được Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét. Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc tạo lập khung khổ pháp lý phát triển kinh tế thị trường, luận án chỉ rõ các hạn chế căn bản về chất lượng:
- Xu hướng ban hành "luật khung", "luật ống" chưa được khắc phục triệt để, phải chờ nhiều văn bản quy định chi tiết mới có thể thi hành;
- Tình trạng chậm tiến độ so với Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh diễn ra thường xuyên;
- Tính dự báo và tính khả thi của một số dự án luật chưa cao, dẫn đến tình trạng văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung;
- Biểu hiện cục bộ ngành, bảo đảm thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước hơn là tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Luận án phân tích các nguyên nhân của tình trạng trên, gồm nguyên nhân khách quan (tính chất phức tạp của nền kinh tế chuyển đổi, tốc độ hội nhập nhanh) và nguyên nhân chủ quan (năng lực phân tích và hoạch định chính sách của các bộ, ngành còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ; trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu chưa được quy định gắn liền với chế tài rõ ràng).
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 xác lập hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Về quan điểm: Đổi mới phải quán triệt đường lối của Đảng về NNPQXHCN; tôn trọng nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát; nâng cao tính chủ động và vị trí trung tâm của Chính phủ trong hoạch định chính sách; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản luật theo đúng tinh thần Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, bảo đảm chính sách được đánh giá tác động kỹ lưỡng trước khi đưa vào soạn thảo;
- Xác định rõ cơ chế trách nhiệm chính trị và trách nhiệm giải trình của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trước Quốc hội đối với tiến độ và chất lượng dự án luật do mình chủ trì;
- Hoàn thiện quy trình nội bộ của Chính phủ: tăng cường vai trò thẩm định của Bộ Tư pháp và vai trò điều phối của Văn phòng Chính phủ; tổ chức các phiên họp chuyên đề của Chính phủ về xây dựng pháp luật;
- Đổi mới cơ chế phối hợp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo của Chính phủ với cơ quan thẩm tra của Quốc hội, bảo đảm Chính phủ có trách nhiệm bảo vệ và theo đuổi dự án luật đến cùng;
- Kiện toàn tổ chức pháp chế bộ ngành, nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ cơ sở khoa học về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong việc thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án chỉ ra rằng việc Chính phủ trình đa số dự án luật không làm suy giảm quyền lập pháp của Quốc hội, mà là sự phân công chức năng tự nhiên: hành pháp là cơ quan trực tiếp quản lý xã hội, nắm bắt sớm nhất các bất cập của đời sống thực tiễn nên có đầy đủ thông tin và động lực để khởi xướng chính sách pháp luật.
Về mặt thực tiễn, luận án đã nhận diện toàn diện thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình lập pháp tại Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2017, chỉ rõ các tồn tại về kỹ thuật lập pháp, tư duy cục bộ ngành và nguyên nhân gốc rễ từ khâu hoạch định chính sách.
Công trình xác lập ba luận điểm cốt lõi về trách nhiệm của Chính phủ:
- Chính phủ phải giữ vai trò chủ động, đi đầu trong sáng kiến lập pháp;
- Chính phủ phải có trách nhiệm đến cùng đối với dự án luật do mình trình (từ khâu khởi xướng chính sách, soạn thảo, tiếp thu ý kiến giải trình cho đến khi Quốc hội thông qua);
- Chính phủ phải chịu trách nhiệm chính trị đối với tình trạng và chất lượng của hệ thống pháp luật quốc gia.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do phạm vi nghiên cứu và thời điểm hoàn thành công trình (năm 2017), luận án tập trung khảo sát các dữ liệu thực tiễn chủ yếu từ sau Hiến pháp năm 1992 đến giai đoạn đầu thực thi các đạo luật mới ban hành năm 2015, do đó chưa thể bao quát hết toàn bộ quá trình áp dụng trong dài hạn của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 trên thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở gồm:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng tác động thực tế của quy trình tách bạch giai đoạn lập đề nghị chính sách và giai đoạn soạn thảo văn bản luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý kiểm soát việc "ủy quyền lập pháp" và quy định chế tài xử lý trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với những sai phạm trong công tác tham mưu, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành luật: Tham khảo khung lý thuyết về Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực nhà nước, và phương pháp tiếp cận luật học so sánh trong nghiên cứu lập pháp;
- Giảng viên giảng dạy luật học: Phục vụ công tác giảng dạy các học phần Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
- Các cơ quan làm chính sách và cán bộ thực tiễn: Các cơ quan thuộc Chính phủ (Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, tổ chức pháp chế các bộ, ngành) và các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Pháp luật, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban chuyên môn) có thể sử dụng các luận cứ của luận án để hoàn thiện quy trình phối hợp soạn thảo, thẩm tra và phân tích chính sách công.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình tại Việt Nam là bao nhiêu và có tương đồng với thế giới không?
Tại Việt Nam, Chính phủ là cơ quan trình khoảng 90% tổng số các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Số liệu so sánh quốc tế của David M. Olson trên 40 quốc gia cho thấy có 48% số nước chính phủ trình trên 90% số dự án luật, và 25% số nước chính phủ trình từ 60% đến 89%. Như vậy, việc hành pháp chiếm tỷ lệ chi phối trong sáng kiến lập pháp là hiện tượng phổ biến trên thế giới.
2. Hai quan điểm trái ngược nhau về việc Chính phủ tham gia xây dựng dự án luật được nêu trong văn bản là gì?
Quan điểm thứ nhất cho rằng Quốc hội phải nắm trọn quyền làm luật và tự soạn thảo để tránh việc các bộ ngành vun vén lợi ích cục bộ, coi việc để Chính phủ soạn thảo là chuyển gánh nặng của lập pháp sang hành pháp. Quan điểm thứ hai cho rằng xây dựng dự án luật là trách nhiệm tự nhiên của Chính phủ xuất phát từ thực tiễn quản lý điều hành, Quốc hội chỉ nên đóng vai trò thẩm định, phản biện và quyết định thông qua.
3. Ba yêu cầu cơ bản đối với pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật trong NNPQXHCN được luận án đúc kết là gì?
Tác giả đúc kết 3 yêu cầu cốt lõi gồm: (1) Bảo đảm tính hợp lý (lợi ích đem lại cho xã hội phải lớn hơn chi phí hoặc bất lợi phát sinh); (2) Bảo đảm sự đơn giản (ngôn từ trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu để mọi công dân tiếp cận và tự giác tuân thủ); (3) Bảo đảm tính công khai, minh bạch (quy trình rộng mở, thu hút sự tham gia của đối tượng chịu tác động nhằm ngăn chặn lợi ích nhóm và tư duy cục bộ).
4. Luận án xác định trách nhiệm của Chính phủ đối với dự án luật, pháp lệnh trên những khía cạnh nào?
Luận án chỉ ra ba khía cạnh trách nhiệm cốt lõi: Chính phủ phải chủ động giữ vai trò đi đầu trong sáng kiến lập pháp; Chính phủ phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với dự án luật do mình trình; và Chính phủ phải chịu trách nhiệm chính trị đối với chất lượng và sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật quốc gia.
5. Luận án điểm lại nguyên tắc quản trị nào từ công trình "Đổi mới hoạt động của Chính phủ" của David Osborne và Ted Gaebler?
Luận án trích dẫn hai nguyên tắc quan trọng từ công trình này: "Chính phủ xúc tác: cầm lái chứ không phải là bơi chèo" và "Nhỏ hơn nhưng mạnh hơn", nhấn mạnh việc chính phủ tập trung vào việc ra quyết định chính sách và kiểm tra thực thi thay vì ôm đồm các công việc sự vụ.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Hoài Nam là công trình nghiên cứu toàn diện về vai trò và trách nhiệm của Chính phủ trong quy trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh dưới góc độ lý luận và thực tiễn NNPQXHCN Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, thống kê thực tiễn và luật học so sánh, tác giả đã khẳng định vai trò chủ đạo của nhánh hành pháp trong khởi xướng chính sách là quy luật khách quan của quản trị nhà nước hiện đại. Luận án đã hệ thống hóa các nguyên nhân dẫn đến hạn chế về chất lượng văn bản và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế phân tích chính sách, nâng cao trách nhiệm chính trị của người đứng đầu và đổi mới quy trình phối hợp giữa Chính phủ và Quốc hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.