Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền lập quy của Chính phủ" thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số đào tạo: 62 99877), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Thái Vĩnh Thắng và PGS.TS. Trần Nho Thìn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ giữ vị trí là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Để thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, Chính phủ thực hiện quyền lập quy để ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) dưới luật nhằm cụ thể hóa, quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các điều ước quốc tế. Mặc dù số lượng và chất lượng VBQPPL của Chính phủ không ngừng gia tăng, thực tiễn hoạt động lập quy giai đoạn trước năm 2010 bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Nghị quyết số 55/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội đã chỉ rõ: lãnh đạo một số cơ quan soạn thảo chưa nhận thức đầy đủ và chưa quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ xây dựng VBQPPL; việc ban hành văn bản thường chậm trễ, không kịp thời; một số dự thảo không đạt yêu cầu, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc trái với luật và pháp lệnh.
Khoảng trống nghiên cứu lớn được tác giả xác định là: pháp luật hiện hành chưa phân định rành mạch nội dung giữa quyền lập pháp và quyền lập quy; Hiến pháp và các đạo luật chưa quy định cụ thể về cơ chế lập pháp ủy quyền, dẫn đến hiện tượng cơ quan hành pháp lấn sân cơ quan lập pháp hoặc ngược lại. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về quyền lập quy của Chính phủ là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích bao trùm của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quyền lập quy của Chính phủ Việt Nam và đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quyền lập quy của Chính phủ. Tác giả xác định 8 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích các quan điểm, khái niệm khác nhau về lập quy, quyền lập quy và lập pháp ủy quyền.
- Làm rõ khái niệm, bản chất và các đặc điểm đặc thù của quyền lập quy của Chính phủ.
- Nghiên cứu hình thức văn bản và nội dung của quyền lập quy của Chính phủ.
- Phân tích các quan điểm khoa học về việc phân định nội dung giữa quyền lập pháp của Quốc hội và quyền lập quy của Chính phủ.
- Luận giải mối quan hệ giữa quyền lập quy của Chính phủ với quyền lập pháp của Quốc hội và quyền ban hành văn bản, ra quyết định của các cơ quan tư pháp.
- Khảo cứu kinh nghiệm và quy định pháp luật về quyền lập quy của Chính phủ ở một số nước trên thế giới nhằm rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Khái lược lịch sử quyền lập quy của Chính phủ từ ngày 02/9/1945 đến trước Hiến pháp 1992 và khảo sát toàn diện thực trạng quyền lập quy từ năm 1992 đến nay.
- Xác định các quan điểm định hướng và kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quyền lập quy của Chính phủ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về quyền lập quy (tiếp cận theo nghĩa hẹp), quyền lập quy của Chính phủ (tiếp cận theo nghĩa rộng) và chế định lập pháp ủy quyền.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào thực tiễn tổ chức và thực hiện quyền lập quy tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu so sánh với mô hình lập quy của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Pháp, Đức, Belarus và một số quốc gia khác.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ tiến trình lịch sử lập quy của Chính phủ từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945) đến hết ngày 31/12/2009; trong đó, trọng tâm khảo sát thực chứng sâu là giai đoạn 07 năm từ ngày 01/01/2003 đến 31/12/2009 (giai đoạn thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tiến hành phân loại và tổng thuật các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm chuyên đề:
Các hướng nghiên cứu trước đây
- Nhóm công trình lý luận về quyền lập pháp, lập quy và lập pháp ủy quyền:
- Trong nước: TS. Đỗ Ngọc Hải (2006) trong cuốn "Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt Nam hiện nay" đã chỉ ra 7 đặc điểm cơ bản của hoạt động lập pháp, lập quy. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung với các công trình "Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền" (2007) và "Chính phủ trong nhà nước pháp quyền" (2008) phân tích mô hình Chính phủ, yêu cầu phân công quyền lực và việc giới hạn quyền lực nhà nước. GS.TS. Trần Ngọc Đường và TS. Ngô Đức Mạnh (2008) trong "Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam" đã xác định 5 chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ và khẳng định vai trò ban hành văn bản pháp quy nhằm thích ứng với kinh tế thị trường. Tác giả Bùi Ngọc Sơn (2006) trong "Những góc nhìn lập pháp" tiếp cận lập pháp từ góc độ giám sát hành pháp và yêu cầu giới hạn phạm vi lập pháp của Quốc hội. GS.TS. Phạm Hồng Thái và PGS.TS. Đinh Văn Mậu (2009) đề xuất phương pháp loại trừ để phân định thẩm quyền lập pháp với 10 lĩnh vực bắt buộc phải điều chỉnh bằng luật. Ngoài ra, giáo trình Luật hiến pháp (quyển II, 1973) của GS. Nguyễn Độ cung cấp góc nhìn về thẩm quyền lập quy của Thủ tướng trong chế độ Việt Nam Cộng hòa.
- Nước ngoài: Công trình nghiên cứu của X. Ivanov về "Mối tương quan giữa luật và VBQPPL dưới luật của Liên bang Nga" phân tích bản chất thứ bậc, các công thức pháp lý ("trên cơ sở và để thi hành luật", "không được trái luật", "phù hợp với luật") và hai hình thức cụ thể hóa: phát triển và cụ thể hóa quy phạm. Luận án của Svetlana Ivanova Arefina (Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow mang tên M.V. Lomonosov) về "Những cơ sở hiến định của lập pháp ủy quyền" làm rõ tính chất bổ trợ của chế định ủy quyền đối với học thuyết phân chia quyền lực.
- Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật thực định:
- Các giáo trình Luật Hành chính của Khoa Luật - Đại học Tổng hợp Hà Nội (1994), Đại học Quốc gia Hà Nội (2000, 2005), giáo trình của PGS. Nguyễn Cửu Việt (2008), sách chuyên khảo của TS. Lưu Kiếm Thanh (2003) và các tài liệu nghiệp vụ của Bộ Tư pháp (2008).
- Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng VBQPPL gồm 5 đề án nhánh, tập trung đánh giá quy trình soạn thảo và ban hành văn bản của các cơ quan hành chính trung ương.
- Nhóm nghiên cứu và phản ánh thực trạng lập quy:
- Các bài viết học thuật và bài báo thực chứng phản ánh tình trạng văn bản dưới luật trái luật, không khả thi: bài viết của TS. Nguyễn Ngọc Điện về giải thích pháp luật qua thông tư; ThS. Trần Văn Duy về tính hợp pháp và hợp lý; GS. Nguyễn Vân Nam về hiện tượng nghị định quan trọng hơn luật; Luật sư Trương Thanh Đức về việc không thể sửa luật bằng nghị định; cùng các bài viết của Vũ Xuân Tiền, Trần Huỳnh Thanh Nghị, Ngô Thiệu Phong, Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Duy Minh, Phong Khê.
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu tản mạn ở từng khía cạnh kỹ thuật soạn thảo, từng ngành luật riêng lẻ hoặc chỉ phản ánh những vi phạm cụ thể của một số văn bản cá biệt. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đa chiều và có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về quyền lập quy của Chính phủ dưới góc độ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Luận án này là công trình khoa học đầu tiên giải quyết tổng thể cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử, thực trạng thực thi và hoạch định mô hình lập quy hoàn chỉnh cho Chính phủ Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm trung tâm
- Khái niệm lập quy và quyền lập quy: Tác giả phân tích từ nguyên Hán - Việt ("lập" là dựng nên, "quy" là compa, phép tắc) và các thuật ngữ quốc tế tương đương (regulation, rule-making, подзаконное нормотворчество, регламентарная власть).
- Nghĩa rộng: Quyền lập quy bao gồm lập pháp ủy quyền trực tiếp và thẩm quyền ban hành/liên tịch ban hành QPPL dưới luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Nghĩa hẹp: Quyền lập quy là hình thức ủy quyền lập pháp gián tiếp, tức thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch ban hành QPPL dưới luật trên cơ sở và để thi hành QPPL của cơ quan lập pháp hoặc cơ quan cấp trên. Luận án lựa chọn tiếp cận quyền lập quy theo nghĩa hẹp.
- Khái niệm quyền lập quy của Chính phủ: Được luận án tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm thẩm quyền ban hành VBQPPL dưới luật của cả 3 chủ thể: tập thể Chính phủ (nghị định, nghị quyết liên tịch), Thủ tướng Chính phủ (quyết định) và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (thông tư, thông tư liên tịch).
- Phân biệt quyền lập quy và lập pháp ủy quyền: Luận án chỉ rõ 4 tiêu chí phân biệt căn bản:
| Tiêu chí phân biệt | Quyền lập quy (nghĩa hẹp) | Lập pháp ủy quyền (ủy quyền trực tiếp) |
|---|---|---|
| Chủ thể thực hiện | Đa dạng các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương | Chủ thể xác định do Nghị viện trực tiếp ủy quyền (chủ yếu là Chính phủ) |
| Giá trị pháp lý & thời hạn | Giá trị dưới luật, thường không xác định thời hạn hết hiệu lực | Giá trị tương đương luật, có hiệu lực trong thời hạn xác định |
| Quy trình & kiểm soát | Do pháp luật về ban hành văn bản quy định, không phải trình Nghị viện phê chuẩn trước | Phải tuân thủ đạo luật ủy quyền, phải trình Nghị viện xem xét/quyết định |
| Thẩm quyền liên tịch | Được phép liên tịch giữa các cơ quan để ban hành QPPL | Không được liên tịch với các cơ quan, tổ chức khác |
- Bản chất của quyền lập quy của Chính phủ: Mang tính giai cấp công nhân sâu sắc và tính xã hội rộng rãi.
- 8 đặc điểm của quyền lập quy của Chính phủ:
- Phái sinh từ quyền lập pháp (chỉ thực hiện khi được cơ quan lập pháp hoặc cấp trên cho phép).
- Là một dạng quyền lực nhà nước mang tính bắt buộc chung.
- Có tính chất dưới luật (không được trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH).
- Phân tầng thứ bậc hiệu lực pháp lý tương ứng với từng chủ thể trong Chính phủ.
- Mang tính sáng tạo pháp luật cao (cụ thể hóa các quy phạm khung, lấp lỗ hổng quản lý).
- Mang tính định hướng hành vi cho cá nhân, tổ chức.
- Mang tính khoa học và kỹ thuật chuyên ngành sâu.
- Mang tính dân chủ và nhân đạo sâu sắc.
Phương pháp tiếp cận và thu thập dữ liệu
- Phương pháp luận: Luận án vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật biện chứng (phân tích mối liên hệ tương hỗ, ràng buộc giữa lập pháp, lập quy và tư pháp) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (đánh giá hoạt động lập quy gắn liền với bối cảnh kinh tế - chính trị của từng giai đoạn cách mạng từ năm 1945).
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích luật thực định: Mổ xẻ các điều khoản của Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992), Luật Ban hành VBQPPL (1996, 2002, 2008), Luật Tổ chức Chính phủ qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu mô hình lập quy của Việt Nam với các hệ thống pháp luật thế giới (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Pháp, Đức, Belarus...).
- Phương pháp tổng hợp và đối chiếu lịch sử: Phân tích sự biến thiên của hệ thống hình thức văn bản lập quy qua các bản Hiến pháp và giai đoạn lịch sử (bao gồm cả tư liệu lập pháp ủy quyền của chế độ Việt Nam Cộng hòa 1956, 1972).
- Nguồn dữ liệu: Văn kiện của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội (đặc biệt Nghị quyết 55/2005/QH11), các báo cáo kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp, hệ thống văn bản lưu trữ quốc gia và các công trình khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện bức tranh nghiên cứu liên quan đến đề tài ở ba phân nhóm chính: nhóm lý luận lập pháp - lập quy, nhóm quy định pháp luật thực định và nhóm phản ánh thực trạng văn bản. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đó đã đóng góp nhiều luận điểm có giá trị về bản chất quản lý nhà nước và kỹ thuật ban hành văn bản, nhưng vẫn còn phân tán và chưa giải quyết căn cơ mối quan hệ phân quyền giữa Quốc hội và Chính phủ. Từ đó, chương này khẳng định tính độc lập và xác lập vị trí học thuật của luận án như một công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện quyền lập quy dưới giác độ lý luận nhà nước và pháp luật.
Chương 2: Cơ sở lý luận về quyền lập quy của Chính phủ
Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng:
- Làm rõ cấu trúc khái niệm lập quy, phân biệt rõ giữa lập quy nghĩa rộng và nghĩa hẹp; phân định quyền lập quy với chế định lập pháp ủy quyền.
- Phân tích bản chất kép (tính giai cấp và tính xã hội) cùng 8 đặc trưng cấu thành quyền lập quy của Chính phủ.
- Phân tích các hình thức văn bản thể hiện quyền lập quy trong lịch sử (sắc lệnh, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư, nghị quyết liên tịch, thông tư liên tịch).
- Luận giải mối quan hệ giữa quyền lập quy với quyền lập pháp của Quốc hội và quyền tư pháp của Tòa án, Viện kiểm sát; phân tích sự cần thiết phải phân định ranh giới lập pháp - lập quy bằng phương pháp loại trừ kết hợp liệt kê thẩm quyền.
- Nghiên cứu kinh nghiệm lập quy của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên bang Nga nhằm rút ra các bài học về kiểm soát quyền lực, thủ tục công khai lấy ý kiến và thẩm quyền ban hành văn bản độc lập của nhánh hành pháp.
Chương 3: Thực trạng quyền lập quy của Chính phủ
Chương 3 tái hiện bức tranh thực tế về hoạt động lập quy tại Việt Nam:
- Tiến trình lịch sử: Khái lược 4 giai đoạn phát triển lập quy:
- Giai đoạn 1945 - 1959: Thời kỳ kháng chiến kiến quốc, quyền lập quy thể hiện chủ yếu qua Sắc lệnh của Chủ tịch nước kiêm người đứng đầu Chính phủ và Nghị định của các Bộ.
- Giai đoạn 1960 - 1980: Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, thẩm quyền thuộc Hội đồng Chính phủ.
- Giai đoạn 1980 - 1992: Thời kỳ Hội đồng Bộ trưởng, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển dần sang thời kỳ đầu đổi mới.
- Giai đoạn 1992 đến 2009: Thời kỳ hiến định lại thiết chế Chính phủ, chuyển biến mạnh mẽ theo kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế (trọng tâm 2003 - 2009): Luận án chỉ ra các thành tựu về số lượng, chất lượng thể chế hóa đường lối của Đảng; đồng thời mổ xẻ các hạn chế về tình trạng văn bản chồng chéo, mâu thuẫn, ban hành chậm trễ, sự lạm dụng hình thức "công văn" chứa quy phạm và hiện tượng vi hiến, trái luật.
- Công tác giám sát, kiểm tra, kiểm sát: Đánh giá hoạt động giám sát của Quốc hội, công tác kiểm tra VBQPPL của Bộ Tư pháp và các Bộ ngành, chỉ ra sự thiếu hụt của cơ chế phán quyết tư pháp đối với các văn bản quy phạm dưới luật trái pháp luật.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quyền lập quy của Chính phủ
Chương 4 xác lập các yêu cầu khách quan từ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp lớn:
- Đổi mới tư duy và hoàn thiện khuôn khổ hiến định: Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 nhằm làm rõ vị trí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, hiến định chế định lập pháp ủy quyền và phân định rõ phạm vi lập pháp của Quốc hội với phạm vi lập quy của Chính phủ.
- Hoàn thiện pháp luật thực định về ban hành văn bản: Sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL theo hướng tinh gọn hệ thống hình thức văn bản, bãi bỏ các hình thức dễ bị lạm dụng, quy định chặt chẽ quy trình đánh giá tác động chính sách và trách nhiệm giải trình.
- Đổi mới cơ chế kiểm soát, xử lý văn bản: Nâng cao năng lực cơ quan kiểm tra văn bản, mở rộng thẩm quyền của cơ quan tư pháp (Tòa án) trong việc xem xét tính hợp pháp của các VBQPPL dưới luật khi giải quyết các vụ án hành chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận
- Xây dựng định nghĩa chuẩn xác về quyền lập quy và quyền lập quy của Chính phủ theo hai cấp độ tiếp cận (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), giải quyết sự bất đồng thuật ngữ trong khoa học pháp lý Việt Nam.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí khoa học phân biệt rành mạch giữa quyền lập quy (ủy quyền lập pháp gián tiếp) và chế định lập pháp ủy quyền (ủy quyền trực tiếp).
- Luận giải sâu sắc bản chất giai cấp - xã hội và 8 đặc điểm đặc thù của quyền lập quy của Chính phủ trong mối tương quan với quyền lập pháp và quyền tư pháp.
- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế có giá trị chọn lọc từ hệ thống pháp luật của các nước phát triển và các nước chuyển đổi.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử lập quy của Chính phủ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2009, đặc biệt là giai đoạn 2003 - 2009.
- Chỉ rõ nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trong văn bản dưới luật (nguyên nhân nhận thức, quy trình, cơ chế kiểm soát và năng lực cán bộ).
- Đưa ra hệ thống đề xuất lập quy có giá trị ứng dụng cao: kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992, sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL, thiết lập cơ chế ủy quyền lập pháp chính thức và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực tiễn và phạm vi khảo sát thực chứng của đề tài dừng lại ở mốc thời gian ngày 31/12/2009 (gắn liền với hiệu lực ban đầu của Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu sự phát triển của quyền lập quy dưới tinh thần Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Nghiên cứu cơ chế kiểm hiến, tài phán hành chính đối với các văn bản lập quy của Chính phủ trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay.
- Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và chính phủ điện tử đến quy trình soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ trực tiếp cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách và lập quy: Là nguồn tham khảo trực tiếp cho Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình rà soát, soạn thảo, thẩm định và kiểm tra VBQPPL.
- Cơ quan dân cử: Hỗ trợ UBTVQH và các Ủy ban của Quốc hội trong công tác phân định phạm vi làm luật và nâng cao hiệu lực giám sát văn bản dưới luật.
- Nghiên cứu và đào tạo: Là giáo trình tham khảo giá trị cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt quyền lập quy theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như thế nào?
Trả lời: Ở nghĩa rộng, quyền lập quy bao gồm cả lập pháp ủy quyền trực tiếp và thẩm quyền ban hành/liên tịch ban hành QPPL dưới luật. Ở nghĩa hẹp, quyền lập quy là hình thức ủy quyền lập pháp gián tiếp, tức thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch ban hành QPPL dưới luật trên cơ sở và để thi hành các quy phạm của cơ quan lập pháp hoặc cấp trên. Luận án tập trung nghiên cứu theo nghĩa hẹp.
2. Quyền lập quy của Chính phủ (nghĩa rộng) gồm những chủ thể nào ban hành văn bản?
Trả lời: Bao gồm 3 chủ thể: (1) Tập thể Chính phủ ban hành nghị định, nghị quyết liên tịch; (2) Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định; (3) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành thông tư, thông tư liên tịch.
3. Vì sao luận án khẳng định pháp lệnh của UBTVQH không phải là văn bản thuộc lập pháp ủy quyền?
Trả lời: Vì UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội. Về mặt lý luận và nguyên tắc pháp lý, cơ quan lập pháp không thể ủy quyền lập pháp cho chính cơ quan thường trực của mình. Lập pháp ủy quyền chỉ diễn ra khi cơ quan lập pháp chuyển giao quyền lập pháp cho nhánh hành pháp (Chính phủ).
4. Giai đoạn thực tiễn trọng tâm mà luận án phân tích sâu là khoảng thời gian nào?
Trả lời: Luận án phân tích sâu giai đoạn 07 năm từ ngày 01/01/2003 đến hết ngày 31/12/2009, tương ứng với giai đoạn thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002) và Luật Ban hành VBQPPL năm 2008.
5. Luận án đề xuất phương pháp nào để phân định ranh giới giữa quyền lập pháp và quyền lập quy?
Trả lời: Luận án ủng hộ áp dụng phương pháp loại trừ kết hợp liệt kê: Luật hóa cụ thể các lĩnh vực bắt buộc phải điều chỉnh bằng luật của Quốc hội (như quyền con người, tổ chức bộ máy, tội phạm, thuế...), những vấn đề còn lại thuộc thẩm quyền lập quy linh hoạt của Chính phủ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quyền lập quy của Chính phủ" của tác giả Nguyễn Đình Nhâm (Nguyễn Đình Thiên) là công trình khoa học pháp lý chuyên khảo được nghiên cứu công phu, giải quyết căn bản các vấn đề lý luận về quyền lập quy và lập pháp ủy quyền tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với phương pháp luật học so sánh và phân tích thực định, tác giả đã đánh giá toàn diện tiến trình lịch sử cùng thực trạng hoạt động lập quy giai đoạn 1945 - 2009. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất mang giá trị khoa học và thực tiễn vững chắc, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.