Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, hoạt động lập pháp giữ vị trí then chốt nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 1997 đến tháng 6 năm 2009 cho thấy, trong tổng số 157 đạo luật và 89 pháp lệnh được ban hành qua các nhiệm kỳ Quốc hội khóa X, XI và XII, có tới 144 luật (chiếm 91,7%) và 79 pháp lệnh (chiếm 88,8%) do Chính phủ trực tiếp soạn thảo và trình. Thực tế này khẳng định nhánh hành pháp luôn là chủ thể khởi xướng và đóng vai trò quan trọng nhất trong công tác xây dựng thể chế.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội và thẩm quyền hành pháp của Chính phủ đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Thực trạng triển khai thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập: tính ổn định của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đạt thấp khi tỷ lệ hoàn thành ở Quốc hội khóa X chỉ đạt 67% (35/56 dự án) và khóa XI đạt 75% (84/112 dự án); nhiều dự án luật phải chỉnh sửa trên 85% tổng số điều khoản khi trình Quốc hội. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện nhu cầu lập pháp của cơ quan hành pháp, đánh giá thực trạng quy trình chuẩn bị dự án luật và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng từ năm 1992 đến năm 2009. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác lập cơ sở khoa học để tái định vị trọng tâm hoạt động của Chính phủ là xây dựng thể chế, góp phần nâng cao chất lượng luật và giảm thiểu tối đa các xung đột quy phạm trong quản trị quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa học thuyết Mác - Lênin về bản chất, chức năng của Nhà nước và pháp luật với lý thuyết phân công, phối hợp quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hệ thống lý luận này khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội hữu hiệu nhất của giai cấp cầm quyền, bắt nguồn từ nhu cầu điều hành thực tiễn của bộ máy hành chính nhà nước.

Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu mô hình quy trình lập pháp hai công đoạn hiện đại: công đoạn một thuộc về Chính phủ với chức năng nhận biết vấn đề xã hội, phân tích dữ liệu và thiết kế chính sách; công đoạn hai thuộc về Quốc hội với chức năng thẩm định, phản biện và chuẩn hóa chính sách thành quy phạm pháp luật. Luận văn vận dụng các khái niệm nền tảng bao gồm: sáng kiến lập pháp (legislative initiative), nhu cầu lập pháp của hành pháp, quy trình phân tích và đánh giá tác động chính sách (RIA - Regulatory Impact Assessment), thẩm định pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Mô hình này đồng thời đối chiếu sâu sắc với kinh nghiệm lập pháp quy chuẩn tại các quốc gia phát triển như Canada và Thụy Điển, nơi phân định rõ ràng giữa khâu hoạch định chính sách của các bộ chuyên ngành và khâu thể chế hóa kỹ thuật luật của Bộ Tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được trích xuất toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 6 năm 2009, bao gồm 258 đạo luật, 208 pháp lệnh của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cùng hơn 1.600 nghị định của Chính phủ, gần 1.800 quyết định và hơn 300 chỉ thị quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu chuyên sâu gồm 11 dự án luật tiêu biểu thuộc nhiều lĩnh vực then chốt (hành chính, tư pháp, kinh tế, quy hoạch) được ban hành trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII để kiểm kê tỷ lệ biến động điều khoản sau quá trình thẩm tra. Đồng thời, nghiên cứu phân tích tập mẫu gồm 26 hồ sơ dự án luật do Chính phủ trình trong giai đoạn 2007 - 2009 nhằm đo lường chính xác độ trễ thời gian theo luật định.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm phương pháp tổng hợp, phân tích quy phạm, diễn dịch, quy nạp và đối chiếu so sánh luật học. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm bóc tách toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng thiết kế chính sách ban đầu của các bộ, ngành với mức độ biến động quy phạm khi ra cơ quan lập pháp, từ đó cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc cho việc đánh giá hiệu năng lập pháp của nhánh hành pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ quan hành pháp nắm giữ quyền chi phối gần như tuyệt đối đối với các sáng kiến lập pháp. Trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ lẫn hàng năm của Quốc hội, các dự án do Chính phủ đề xuất và soạn thảo luôn chiếm trên 90% tổng số dự án. Giai đoạn từ năm 1997 đến giữa năm 2009, Chính phủ đã chủ trì soạn thảo 144 trên tổng số 157 luật (đạt 91,7%) và 79 trên tổng số 89 pháp lệnh (đạt 88,8%) được thông qua.

Thứ hai, tính khả thi và độ ổn định của Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh ở mức rất thấp. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch lập pháp chính thức chỉ đạt 67% ở Quốc hội khóa X (thông qua 35/56 dự án) và 75% ở khóa XI (thông qua 84/112 dự án). Hằng năm, tỷ lệ dự án do Chính phủ trình đúng hạn chỉ đạt khoảng 75% đến 80%. Quốc hội khóa XI đã phải điều chỉnh chương trình 6 lần với 45 dự án bổ sung; khóa XII phải điều chỉnh 3 lần. Điển hình như dự án Luật Biển Việt Nam đã trải qua không dưới 5 lần hoãn, rút và điều chỉnh tiến độ qua 3 nhiệm kỳ Quốc hội.

Thứ ba, chất lượng soạn thảo dự thảo luật ban đầu còn nhiều yếu kém. Thống kê chi tiết trên 11 dự án luật lớn cho thấy phần lớn các dự án đều phải chỉnh sửa từ 70% đến trên 90% tổng số điều khoản trước khi được Quốc hội bấm nút thông qua:

  • Luật Thi hành án dân sự: sửa đổi 164/183 điều (chiếm 89,6%).
  • Luật Giao thông đường bộ: sửa đổi 76/89 điều (chiếm 85,4%).
  • Luật Lý lịch tư pháp: sửa đổi 48/56 điều (chiếm 85,7%).
  • Luật Quy hoạch đô thị: sửa đổi 67/76 điều (chiếm 88,2%).
  • Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: sửa đổi 51/67 điều (chiếm 76,1%).
  • Luật Cán bộ, công chức: sửa đổi 67/87 điều (chiếm 77,0%).

Thứ tư, tình trạng vi phạm thời hạn gửi hồ sơ dự án luật diễn ra nghiêm trọng và phổ biến. Quy định bắt buộc gửi hồ sơ trước 30 ngày (đối với Quốc hội) và 20 ngày (đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội) hầu như bị phá vỡ. Trong 26 dự án luật được khảo sát, 100% hồ sơ đều gửi chậm từ 8 đến 35 ngày. Điển hình như dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản gửi chậm 35 ngày, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) gửi chậm 34 ngày, Luật Cán bộ, công chức gửi chậm 33 ngày.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm trên có thể được trực quan hóa thông qua mô hình biểu đồ cột so sánh tương quan giữa số lượng điều khoản do Chính phủ trình và số lượng điều khoản phải chỉnh lý thực tế tại Quốc hội, kết hợp cùng bảng ma trận đo lường mức độ chậm trễ tiến độ tính theo số ngày vi phạm.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ việc các bộ, ngành chủ trì soạn thảo thường có xu hướng cài cắm lợi ích cục bộ, xây dựng quy phạm theo hướng thuận tiện cho cơ quan quản lý và đẩy phần khó khăn cho xã hội. Báo cáo đánh giá tác động (RIA) và báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật phần lớn chỉ được thực hiện mang tính hình thức nhằm hợp thức hóa hồ sơ dự án. Hoạt động của các Ban soạn thảo thiếu tính chuyên nghiệp khi Trưởng ban thường ủy quyền cho cấp dưới, còn các chuyên gia độc lập chỉ tham gia dưới dạng đóng góp ý kiến rời rạc.

Về phía cơ quan thẩm định, Bộ Tư pháp chịu áp lực quá tải lớn về thời gian và nhân lực, trong khi chức năng của bộ chỉ bao quát được tính hợp hiến, hợp pháp và kỹ thuật soạn thảo chứ không thể thẩm định sâu tính khả thi về mặt kinh tế - xã hội của chính sách chuyên ngành. Tại các phiên họp Chính phủ, quỹ thời gian dành cho công tác thể chế rất hạn chế, trung bình mỗi phiên họp chỉ dành khoảng 0,5 ngày cho 2 đến 3 dự án luật, dẫn tới thời gian thảo luận thực tế cho mỗi dự án chỉ kéo dài chưa đầy 60 phút. Việc lạm dụng hình thức lấy ý kiến thành viên Chính phủ qua phiếu gửi văn bản làm triệt tiêu tính phản biện tập thể, khiến nhiều chính sách chưa được cân nhắc thấu đáo trước khi trình sang Quốc hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khắc phục triệt để các điểm nghẽn thể chế và nâng cao năng lực lập pháp của nhánh hành pháp, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Tái cấu trúc quy trình soạn thảo theo mô hình hai giai đoạn chuyên biệt: Phân tách rõ ràng giữa giai đoạn hoạch định chính sách do các Bộ chuyên ngành chủ trì và giai đoạn soạn thảo kỹ thuật quy phạm do Bộ Tư pháp cùng đội ngũ chuyên gia pháp lý độc lập đảm trách. Chủ thể thực hiện: Chính phủ và Bộ Tư pháp. Lộ trình: Hoàn thiện quy chuẩn trong vòng 12 đến 24 tháng tới. Mục tiêu cụ thể: Giảm tỷ lệ điều khoản phải chỉnh sửa tại Quốc hội từ mức trên 85% hiện nay xuống dưới 30%.

  2. Thể chế hóa bắt buộc quy trình Đánh giá tác động chính sách (RIA) thực chất: Ban hành bộ tiêu chí định lượng bắt buộc về chi phí - lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường đối với mọi chính sách mới; quy định tỷ lệ tối thiểu 40% thành viên thẩm định chính sách là các chuyên gia, nhà khoa học độc lập ngoài cơ quan hành chính. Chủ thể thực hiện: Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp. Lộ trình: Áp dụng bắt buộc trong chu kỳ lập pháp hàng năm. Mục tiêu: 100% hồ sơ dự án luật có báo cáo RIA đạt chuẩn kiểm định độc lập trước khi trình Chính phủ.

  3. Cải tiến căn bản phương thức làm việc và thời lượng thảo luận của Chính phủ: Thiết lập các phiên họp chuyên đề định kỳ về xây dựng thể chế, nâng tổng thời lượng thảo luận tập thể lên tối thiểu 2 ngày/phiên chuyên đề hoặc dành ít nhất 180 phút thảo luận trực tiếp cho mỗi dự án luật phức tạp; bãi bỏ hình thức lấy ý kiến văn bản thay cho thảo luận đối với các chính sách lớn. Chủ thể thực hiện: Thủ tướng Chính phủ và các Thành viên Chính phủ. Lộ trình: Sửa đổi Quy chế làm việc của Chính phủ trong vòng 6 tháng tới. Mục tiêu: Đạt 100% sự đồng thuận và hiểu biết sâu sắc của tập thể lãnh đạo về nội dung chính sách.

  4. Xác lập kỷ luật hành chính nghiêm minh và chế tài về thời hạn gửi hồ sơ: Quy định rõ trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ nếu để xảy ra tình trạng chậm gửi hồ sơ dự án luật quá thời hạn 30 ngày theo luật định; kiên quyết rút khỏi chương trình kỳ họp Quốc hội đối với các dự án chưa chuẩn bị kỹ lưỡng về chính sách. Chủ thể thực hiện: Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Lộ trình: Triển khai kiểm tra thường niên. Mục tiêu: Chấm dứt hoàn toàn 100% tình trạng gửi hồ sơ dự án luật sau ngày khai mạc kỳ họp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn chuyên sâu dành cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế tại các Bộ, ngành và Văn phòng Chính phủ: Giúp nắm vững quy chuẩn quy trình thiết kế chính sách công, phương pháp đánh giá tác động RIA thực chất và kỹ thuật lập pháp hiện đại, từ đó khắc phục triệt để tư duy cục bộ ngành trong soạn thảo văn bản.

  2. Đại biểu Quốc hội và đội ngũ chuyên viên thẩm tra tại các Ủy ban của Quốc hội: Cung cấp bức tranh thực chứng toàn cảnh về quy trình chuẩn bị luật của nhánh hành pháp, trang bị hệ thống công cụ và chỉ số thực tế để nâng cao hiệu lực thẩm tra, giám sát chất lượng các dự án luật do Chính phủ trình.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật học, Quản lý công, Hành chính công: Cung cấp nguồn dữ liệu thống kê phong phú với 258 đạo luật, 208 pháp lệnh và hơn 3.700 văn bản dưới luật, tạo tiền đề nghiên cứu vững chắc về cơ chế phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam.

  4. Luật sư, chuyên gia phân tích chính sách và các hiệp hội doanh nghiệp: Nắm bắt cơ chế hình thành quy phạm pháp luật để nâng cao chất lượng phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp trong quá trình tham vấn chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cơ quan hành pháp luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc đề xuất sáng kiến và soạn thảo dự án luật?
Chính phủ là cơ quan trực tiếp quản lý, điều hành kinh tế - xã hội hằng ngày nên có khả năng phát hiện sớm nhất các khoảng trống pháp lý. Với bộ máy hành chính chuyên nghiệp, Chính phủ đã chủ trì soạn thảo tới 144/157 luật (đạt 91,7%) trong các khóa Quốc hội X đến XII, chứng minh chỉ có hành pháp mới đủ nguồn lực thực tiễn để thiết kế chính sách khả thi.

Thực trạng chậm gửi hồ sơ dự án luật gây ra những hệ lụy gì cho hoạt động lập pháp của Quốc hội?
Việc 100% hồ sơ dự án luật khảo sát bị gửi chậm từ 8 đến 35 ngày (như Luật Đầu tư xây dựng cơ bản chậm 35 ngày) khiến các cơ quan thẩm tra của Quốc hội rơi vào thế bị động, đại biểu không đủ thời gian nghiên cứu sâu. Hậu quả trực tiếp là nhiều dự thảo buộc phải thẩm tra gấp rút trong thời gian diễn ra kỳ họp, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng tranh biện.

Nguyên nhân nào dẫn tới việc trên 80% điều khoản dự thảo luật phải sửa đổi khi Quốc hội xem xét thông qua?
Nguyên nhân chủ yếu do cơ quan soạn thảo xem nhẹ đánh giá tác động chính sách (RIA), lấy ý kiến đối tượng chịu tác động mang tính hình thức và có xu hướng lồng ghép lợi ích cục bộ ngành. Ví dụ, dự án Luật Lý lịch tư pháp phải chỉnh sửa 48/56 điều do bản dự thảo ban đầu chưa giải quyết thấu đáo sự phối hợp liên ngành và thiếu tính khả thi thực tiễn.

Mô hình lập pháp của Canada đem lại bài học kinh nghiệm gì cho quy trình xây dựng pháp luật tại Việt Nam?
Canada áp dụng quy trình hai giai đoạn rạch ròi: các bộ chuyên ngành tập trung nghiên cứu thực tiễn, phân tích dữ liệu để thiết kế chính sách; sau khi nội các phê chuẩn, Bộ Tư pháp sẽ độc quyền soạn thảo kỹ thuật quy phạm. Mô hình này giúp loại bỏ lợi ích cục bộ và bảo đảm tính thống nhất, khoa học tuyệt đối của hệ thống pháp luật.

Cần làm gì để nâng cao vai trò thực chất của các chuyên gia độc lập trong các Ban soạn thảo luật?
Cần chuyển đổi hình thức mời họp hội thảo chung chung sang ký kết hợp đồng phản biện chính sách độc lập có thù lao tương xứng; đồng thời quy định bắt buộc tỷ lệ tối thiểu 40% thành viên Ban soạn thảo là các nhà khoa học, chuyên gia thực tiễn có quyền biểu quyết độc lập đối với các phương án chính sách.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ những luận điểm học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Khẳng định hoạt động xây dựng thể chế bắt nguồn trực tiếp từ nhu cầu điều hành thực tế của cơ quan hành pháp và là chức năng trọng tâm của Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền.
  • Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn thực chứng: Tỷ lệ hoàn thành chương trình lập pháp đạt thấp (67% đến 75%), độ trễ thời gian nghiêm trọng (chậm từ 8 đến 35 ngày) và tỷ lệ điều khoản dự thảo phải sửa đổi ở mức báo động (76% đến 89,6%).
  • Xác lập mô hình quy trình lập pháp hai công đoạn hiện đại, phân định rạch ròi giữa khâu thiết kế chính sách chuyên ngành và khâu kỹ thuật thể chế hóa pháp lý.
  • Đề xuất lộ trình cải cách thể chế quyết liệt: Hoàn thiện quy chế làm việc của Chính phủ trong 6 tháng, nâng thời lượng thảo luận lên tối thiểu 180 phút/dự án và chuẩn hóa 100% báo cáo RIA độc lập.
  • Đóng góp nguồn cơ sở dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn với 258 đạo luật và 208 pháp lệnh, cung cấp nền tảng khoa học cho công cuộc cải cách thể chế tại Việt Nam.

Kính mời các nhà nghiên cứu, cán bộ hoạch định chính sách và bạn đọc quan tâm cùng tham khảo toàn văn công trình để tiếp tục trao đổi, đóng góp vào tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đồng bộ, hiện đại và minh bạch.