CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CÔNG TY XUYEN QUOC GIA. Tổng quan về tình hình nghiên cứu về công ty xuyên quốc gia 1. Tài liệu nghiên cứu quốc tế Donald W. Katzner (2001) đã công bố bài viết giải thích hiện tưởng tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Nhật Bản trong thế kỷ XX.
Bài viết lập luận rằng chính các công ty Nhật Bản là một trong những nhân tố chính đã chèo lái và dẫn dắt nền kinh tế Nhật Bản vượt qua giai đoạn khó khăn sau chiến tranh và đạt được giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ trong giai đoạn 1960-1973. Trong giai đoạn này các công ty nội địa Nhật đã học hỏi và áp dụng các mô hình kinh doanh tại các nước phương Tây, đồng thời sự tập trung day mạnh phát triển vào công nghệ, kỹ thuật cùng với sự khuyến khích và bảo hộ của chính phủ khiến cho nhiều tập đoàn độc quyền xuất hiện và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn day, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất như linh kiện điện tử, ô tô,. Cùng với việc đầu tư hiệu quả và phân bố nguồn vốn hợp lý, các công ty này ngày càng phát triển và mở rộng đầu tư sang nước ngoài, trở thành những đầu tàu trong nền kinh tế Nhật Bản, góp phần giúp Nhật Bản tái thiết và phát triển lại nên kinh tê sau chiên tranh. Page (1994) đã thực hiện một nghiên cứu về sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ tại khu vực Đông Á.
Bài viết giới thiệu về sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt xem xét đến Nhật Bản và “bốn con hồ” của nền kinh tế châu Á là Đài Loan, Hongkong, Hàn Quốc và Singapore. Trong giai đoạn từ những năm 1960-1990, các khu vực nay đã phát triển kinh tế nhanh chóng mà nguyên nhân chính giải thích cho việc này là việc phát triển, đây mạnh sản xuất nội địa dưới sự bảo hộ của chính phủ, đồng thời có gắng tạo ra một môi trường đầu tư thân thiện dé thu hút dau tư và tập trung 13 vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Các tập đoàn sản xuất nội địa lớn được khuyến khích đầu tư sản xuất ra nước ngoài theo hình thức “đàn nhạn bay” từ đó mở rộng thi trường tiêu thụ, đây mạnh xuất khẩu và mang về nguồn ngoại tệ lớn. Tom Nicholas (2011) công bố nghiên cứu về nguồn gốc của hiện đại hoá công nghệ tại Nhật Bản.
Bài viết đưa ra những quan điểm xuyên suốt giải thích cho sự phát triển kinh tế tại Nhật Bản, đặt biệt tập trung vào vấn đề chuyên giao công nghệ quốc té. Qua trình hiện dai hoa công nghệ tại Nhat Ban đã được bắt đầu từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIX và xuyên suốt cả thế kỷ XX. Nếu từ cuối thế kỷ XIX cho đến những năm đầu thế kỷ XX công nghệ được phát triển để phục vụ cho chiến tranh thì nửa cuối thế kỷ XX, Nhật Bản tập trung phát triển công nghệ cho sản xuất. Nhật Bản tích cực chuyển giao các công nghệ từ các nước phương Tây băng việc mua lại các phát minh đồng thời áp dụng thêm các đôi mới vào quá trình sản xuất, các hoạt động kinh tế trên khắp cả nước.
Việc này giúp cho các công ty nội địa có được lợi thế về yếu tố đầu vào khoa học kỹ thuật, từ đó ngày càng phát triển và bắt đầu hình thành nên các TNCs lớn trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử, lắp rap thiết bi, 6 tô,. và bat đầu dẫn dau, chiếm ưu thé về các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ,. Shinji và Hirofumi (2016) đã nghiên cứu về vai trò của các chính sách kinh tế đối với sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tác giả thừa nhận răng, Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ từ giữa những năm 1950 đến đầu những năm 1970.
Đề cải tổ và phục hưng lại nền kinh tế, Nhật Bản đã thực hiện các kế hoạch 5 năm khi tập trung vào công nghiệp hoá, thúc đây thương mại quốc tế, tăng khả năng sản xuất, tự cung ứng trong sản xuất nội địa, xây dựng cơ sở hạ tầng và đi kèm với việc tập trung phát triển công nghệ, kỹ 14 thuật. Hàng hoá Nhật Bản bắt đầu cạnh tranh xâm chiếm thị trường quốc tế, các công ty Nhật Bản nhanh chóng phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động. Park và các cộng sự (2020) trong một nghiên cứu đã đưa ra tác động của các “chaebol” đối với kinh tế của Hàn Quốc. Kinh tế Hàn Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc vào nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
Đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của một trong 4 con hồ của nền kinh tế châu Á phải kế đến các tập đoàn kinh doanh theo mô hình gia đình (còn được gọi là chaebol) tại Hàn Quốc. Các tập đoàn Chaebol tại Hàn đều có điểm xuất phát tự các công ty gia đình và sau khi phát triển và mở rộng trở thành các TNCs thì các chaebol vẫn tiếp tục cho phép các thành viên trong gia đình kiểm soát và điều hành các hoạt động tại nhiều công ty con ở nhiều quốc gia. Mặc dù mang lại rất nhiều lợi ích và góp phan làm tăng trưởng nén kinh tế Hàn Quốc, các chaebols van kiểm soát một phần lớn nền kinh tế Hàn, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả toàn nền kinh tế, chat lượng phân bổ nguồn lực, phân bồ quyền kiểm soát doanh nghiệp, phát triển thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế, thậm chí có ảnh hưởng lên cả chính trị. Han và Lee (2020) đã nghiên cứu về yêu tố con người đối với sự tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc.
Bài viết nhận xét về sự tăng trưởng kinh tế tại Hàn Quốc từ giai đoạn 1986-2017. Các tác giả cho rằng bên cạnh sự xuất hiện và phát triển của các công ty nội địa thành các tập đoàn đa quốc gia thì yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng không kém đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Hàn Quốc. Với tốc độ tăng trưởng trung bình trên đầu người vào khoảng 7,6% mỗi năm từ năm 1965 đến 2015, Hàn Quốc trở thành một trong những nên kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Nhiều nghiên cứu về thành tựu kinh tế của Hàn Quốc đã chỉ ra sự cải thiện về nguồn nhân lực, cùng với tỷ lệ tiệt kiệm và dau tư cao hơn, mở cửa thương mại hon và cải thiện vê chính sách, 15 là những yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng này.
Việc mở rộng và nâng cấp lực lượng lao động đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp Hàn Quốc bắt kịp đà phát triển kinh tế của các nền kinh tế tiên tiến. Trong giai đoạn đầu, Hàn Quốc được hưởng ưu điểm lớn về mặt nhân khẩu học khi sở hữu lực lượng dân số vàng, thúc đây năng lực sản xuất tại quốc gia này. Quốc gia này cũng đã tích lũy được một nguồn lực lượng lao động có trình độ học vấn với tốc độ chưa từng có, được hỗ trợ bởi nhu cầu học cao hơn của các hộ gia đình và đầu tư công cao vào lĩnh vực giáo dục. Nguồn cung déi dao về lực lượng lao động có trình độ học vấn tốt đã cho phép Hàn Quốc nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp, phát triển các TNCs trong các ngành sản xuất công nghiệp, điện tử, sắt thép băng lực lượng lao động tri thức cao và biến nền Hàn Quốc trở thành một trong những nước xuất khâu hàng đầu thế giới.
Chih-Hai Yang (2006) đã nghiên cứu về câu chuyện tăng trưởng kinh tế tại Đài Loan. Bài viết đưa ra các nhân tố có thê giải thích cho phép màu tăng trưởng của kinh tế Đài Loan sau chiến tranh. Kết quả tác giả cho rằng chính sự đổi mới, việc gia tăng các sáng chế về công nghệ kỹ thuật dẫn đến tăng trưởng kinh tế cho Đài Loan. Sau hậu chiến, Đài Loan có tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 8% trong giai đoạn từ năm 1950-2000.
Một trong những nguyên nhân giải thích là do Đài Loan đã đạt được tiến bộ công nghệ vượt bậc. Vào thời gian đầu, các công ty Đài Loan sản xuất hàng hoá theo hợp đồng cho các TNCs nước ngoài. Sau đó các công ty nội địa Dai Loan đã hoc hoi và áp dụng các công nghệ sản xuất của nước ngoài bắt đầu đưa ra thị trường các sản pham dưới tên của họ. Các công ty trong nước bắt đầu phát triển nhờ lượng hàng hoá tiêu thụ và xuất đi nước ngoài và phát triển trở thành các MNCs khi bắt đầu lựa chọn đầu tư, xây dựng thêm các nhà máy ở các nước lân cận để tận dụng lao động giá rẻ và xâm nhập thị trường mới.
Việc này góp phần không nhỏ vào sự phát triên của nên kinh tê Đài Loan, giúp Đài Loan tiêp cận với thị trường tiêu 16 dùng đa dạng và thị trường lao động giá rẻ bên ngoài, đồng thời mang về nguồn ngoại tệ không 16, tác động phần nào vào mức lương tối thiểu cho người lao động trong nước. Rachel Premack (2017) đã thực hiện nghiên cứu về sự phát triển của các tập đoàn tại Hàn Quốc. Nhờ sức mạnh của các tập đoàn lớn về điện tử, công nghệ, việc thông, sản xuất ô tô và sắt thép đã đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển. Các công ty thuộc sở hữu gia đình này gồm một số ông lớn toàn cầu như Samsung, LG, Huyndai,.
đã và đang có những tác động quá mạnh mẽ với nền kinh tế Hàn Quốc. Phan lớn các “Chaebol” chiếm quá nhiều thị phần trong GDP và giá trị xuất khâu của Hàn Quốc, cũng như trên các sàn giao dịch cô phiếu. Đồng thời sự tăng trưởng của các “Chaebol” chi phôi quá nhiêu nên kinh tê cũng và ảnh hưởng sang cả chính trị. Tang và các công sự (2020) thực hiện nghiên cứu về sự thay đổi trong chuỗi giá trị toàn cầu tại Trung Quốc.
Bài viết nghiên cứu và phân tích về sự thay đổi phân khúc trong nước của chuỗi giá trị toàn cầu tại Trung Quốc. Trung Quốc là một trong những quốc gia đón nhận nhiều lượng vốn đầu tư và là một địa điểm cung ứng lớn cho các hoạt động sản xuất trong các chuỗi giá tri toàn cầu, trong các chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.