Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả nêu ra cơ sở lý luận của nghiên cứu, cung cấp cái nhìn tổng quan về nghiên cứu, nêu mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, xác định phạm vi, nêu bật những đóng góp mới, nhấn mạnh tầm quan trọng, thảo luận về phương pháp nghiên cứu và phác thảo cấu trúc của luận văn. 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong chương này, tác giả trình bày các khái niệm, lý thuyết nền có liên quan, các nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá tổng quan nghiên cứu. Chương 3: Giả thuyết, mô hình và phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày giả thuyết nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm: phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm định mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương này, tác giả trình bày kết luận, hàm ý chính sách, hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả trình bày nội dung liên quan đến VTTSNNR, phát triển tài chính và khung lý thuyết của Mendoza et al. Mô hình lý thuyết của Mendoza và các cộng sự được lập luận như sau: Mất cân bằng tài chính toàn cầu có thể là kết quả của hội nhập tài chính khi các quốc gia khác nhau trong phát triển thị trường tài chính. Các quốc gia với nền tài chính phát triển thì tích lũy nợ nước ngoài một cách dần dần, trong một quá trình lâu dài.
Sự khác biệt về phát triển tài chính cũng ảnh hưởng đến các thành phần của danh mục đầu tư nước ngoài: các quốc gia với VTTSNNR âm thì duy trì dương trong nắm giữ ròng vốn chủ sở hữu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Cụ thể các mục như sau: 2. Vị thế tài sản nước ngoài ròng 2. Định nghĩa Tổng tài sản bên ngoài bao gồm nhiều thành phần khác nhau, chẳng hạn như chứng khoán đầu tư trực tiếp nước ngoài, chứng khoán vốn trong danh mục tài sản, chứng khoán nợ trong danh mục tài sản, tài sản đầu tư khác (trong chính phủ, ngân hàng và các tổ chức khác), các công cụ tài chính phái sinh và tổng tài sản dự trữ (không bao gồm vàng).
Mặt khác, tổng nợ bên ngoài bao gồm các khoản đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế, danh mục chứng khoán đầu tư vốn phải trả, danh mục chứng khoán nợ phải trả, các khoản đầu tư phải trả khác (bao gồm chính phủ nói chung, khách hàng ngân hàng và các khoản khác) và các công cụ tài chính phái sinh phải trả. Theo Lane và Milesi – Ferretti (2001), Tài sản ròng nước ngoài thể hiện sự chênh lệch giữa giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ và giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ. VTTSNNR được xác định bằng cách chia tài sản nước ngoài ròng cho tài sản trong nước (Gagnon, 1996). 11 Alberola và cộng sự (2020) định nghĩa VTTSNNR dương cho thấy giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ vượt quá giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ, phân loại quốc gia này là chủ nợ.
Ngược lại, VTTSNNR âm có nghĩa là giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ thấp hơn giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ, khiến quốc gia này trở thành quốc gia mắc nợ.